Văn hóa Việt
XE ĐẠP NƯỚC - MỘT PHƯƠNG TIỆN DẪN THUỶ NHẬP ĐIỀN ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT QUẢNG TRỊ

Tại phòng trưng bày về hoạt động kinh tế của người Việt trong Bảo tàng Quảng Trị, khách tham quan sẽ gặp lại rất nhiều công cụ sản xuất nông nghiệp thủ công cổ truyền; trong đó có bộ phương tiện dẫn thủy nhập điền mà nổi bật và gây ấn tượng nhất là chiếc xe đạp nước, với không gian phục dựng cảnh đưa nước vào ruộng trên cánh đồng quê của một đôi trai gái.

Chiếc xe đạp nước được đưa về Bảo tàng Quảng Trị tháng 12-1999 từ một gia đình nông dân Lê Quang Điến ở thôn Trà Lộc xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng - một vùng quê thuần nông.

Với chức năng là một công cụ sản xuất, xe đạp nước đựợc sử dụng như một công cụ tối ưu và hiệu quả để đưa nước từ nơi thấp lên nơi cao, dẫn vào tưới cho đồng ruộng. Xe được làm hoàn toàn bằng gỗ (ngoại trừ 4 cái chốt sắt ở hai chiếc trục). Cấu tạo của xe bao gồm 3 bộ phận chính: Thùng xe (máng dẫn nước), hệ thống lá quạt đẩy nước và hệ trục quay làm nhiệm vụ kéo và đẩy. Ngoài ra khi vận hành trên ruộng còn có thêm 4 trụ tre chống, một thanh tre để làm đòn ngồi và một thanh tre khác để làm tay vịn. Thông thường xe đạp nước có hai loại: một loại gọi là xe 30, một loại gọi là xe 32 (tức là xe có 30 hoặc là 32 lá đẩy nước). Thùng xe được tạo thành một máng dẫn có chiều dài khá lớn (2,66 mét) ghép bởi 3 tấm ván khá dày lại với nhau bằng kỹ thuật chốt mộng, một tấm nằm ngang làm đáy, hai tấm khác ghép đứng để tạo thành một chiếc máng/thùng dẫn nước. Bên trên thành của thùng xe về hai phía có một hệ thống thanh gỗ ghép thành từng ô, liên kết nhau và liên kết với thành của thùng xe như một lan can để giữ cho hệ thống lá đẩy khi chuyển động trong vòng quay, trong thùng (dưới) và ngoài thùng (trên) không bị lệch ra ngoài. Giữa thùng xe bên dưới và thân xe bên trên được ngăn cách bởi một thanh gỗ mỏng có tác dụng đỡ cho hệ thống lá đẩy khi không làm nhiệm vụ đẩy nước.

Hệ thống lá quạt đẩy nước được tạo thành như một sợi dây chuyền bằng gỗ gồm nhiều mắt xích nối với nhau, mà mỗi mắt xích ấy chính là một lá đẩy. Lá đẩy là những tấm gỗ nhỏ, một mặt láng, mặt sau hơi vồ, có kích thước nhỏ hơn một ít so với bề ngang và cả chiều cao của thùng xe, vì như thế các lá này mới di chuyển được trong thùng khi vận hành. Chính giữa các tấm lá là một thanh gỗ nhỏ xuyên ngang và gắn chặt vào lá kéo về hai phía trước và sau. Hai đầu thanh gỗ có khoét ngàm để xỏ chốt. Các lá đẩy được liên kết nhờ các mộng chốt này để tạo ra một dây chuyền liên hoàn giữ chức năng đẩy nước đi trong lòng máng từ đầu này đến đầu kia theo chiều xoay vòng. Khoảng cách giữa các lá từ 24 đến 25 cm.

Hệ trục quay gồm có hai trục: Một trục gắn vào đuôi của thân xe. Một trục khác nằm tách rời. Trục gắn vào xe nhỏ, chiều ngang của trục xấp xỉ chiều ngang của thùng xe. trục này được gắn 6 thanh gỗ cách đều nhau, chiều dài thanh gỗ bằng 2/3 chiều sâu của thùng xe, được cấu tạo như một chong chóng. Điểm gắn trục nằm ngang mép trên của thùng xe ở điểm cuối của đuôi xe. Nhiệm vụ của chiếc trục này là làm quay vòng các lá đẩy để di chuyển các lá đẩy từ trên thành xe xuống dưới rồi vào trong thùng xe và đẩy nước đi. Một trục lớn khác có chiều dài 0,9 mét cũng gồm 6 cánh xếp cách đều nhau gắn chặt vào khối gỗ tròn, chức năng của các cánh chong chóng gắn trên trục này giống như trục nhỏ gắn trên thân xe, chỉ có điều khác biệt hơn là trên bộ phận trục lớn này còn được gắn chặt vào 8 tay vồ nằm về hai phía của 6 cánh chong chóng, mỗi bên gồm 4 tay vồ. Với cấu tạo như vậy, trục lớn có chức năng tạo ra sức kéo làm chuyển động hệ thống lá quạt, đẩy nước lên. Người đạp xe dùng lực từ bàn chân mình đạp cho quay vòng trục khi vận hành.

Dẫn nước vào ruộng bằng xe đạp nước (Ảnh tư liệu BT QT)

 

Khi vận hành xe, ngoài những bộ phận chính của xe đạp nước nói trên, người ta cần tới bộ sào gồm 4 cây cắm chéo nhau ở hai bên với khoảng cách rộng hơn một ít so với chiều dài của trục lớn. Trên hai điểm giao nhau của 4 cọc tre này, người ta gác một thanh tre (có buộc hai đầu) nối bởi hai cọc chéo lại với nhau. Thanh tre này cũng chính là cái đòn ngồi dành cho một người (nếu đạp đơn) hoặc hai người (nếu đạp đôi) ngồi để dùng lực vận hành xe đạp nước. Ngang tầm tay của người ngồi còn được đặt một thanh tre khác buộc hai đầu vào hai cọc bên để vịn trong quá trình vận hành xe đạp nước tránh cho người đạp khỏi ngã chúi về phía trước. Phía trên đầu, góc chéo mà bốn cọc tre tạo thành có thể gác một tấm nứa hoặc một một tấm áo tơi (áo lá che mưa) đủ để che nắng, mưa cho người ngồi bên dưới.

Với công dụng đưa nước từ nơi thấp lên nơi cao, nên thường khi lắp đặt xe đạp nước, tuỳ theo địa hình mà người sử dụng đặt chiếc xe đạp nước theo một góc nghiêng tương ứng, tuy nhiên góc nghiêng của xe đạp nước cũng chỉ phát huy hiệu quả trong khoảng dưới 450 so với mặt bằng ruộng.

Có thể nói, trong đời sống sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng lúa nước của người nông dân Việt Nam vùng đồng bằng và trung du Quảng Trị từ xưa đến nay, xe đạp nước đã góp một phần không nhỏ vào việc giải quyết một phần sức lao động, nâng cao năng suất lao động cho người nông dân trong các làng xã; Nó không chỉ đáp ứng được yêu cầu của việc dẫn thuỷ nhập điền bằng phương pháp thủ công cổ truyền mà còn thể hiện sự tiến bộ vượt bậc trong việc cải tiến công cụ sản xuất cũng như sự tiến bộ không ngừng của ngành nghề thủ công truyền thống và thể hiện trí thông minh, sáng tạo của người nông dân.

Qua nghiên cứu, tìm hiểu chiếc xe đạp nước - một phượng tiện dẫn thuỷ nhập điền điển hình của người Việt Quảng Trị ta thấy, về loại hình, cấu trúc và kỹ thuật chế tác, cách sử dụng rất giống với xe đạp nước ở miền Bắc; chỉ có điều khi vận hành thì dân miền Trung/Quảng Trị ngồi xuôi; còn người miền Bắc thì ngồi ngược lại. Điều đó cũng chứng tỏ thêm về nguồn gốc xuất xứ của người Việt ở Quảng Trị. Hiện nay, trong sự phát triển đi lên ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, chính sách nông nghiệp hoá nông thôn đang được thực hiện rộng khắp. Hệ thống đê điều thuỷ lợi lớn cũng như hệ thống kênh mương nội đồng thường xuyên được chú trọng, các loại máy bơm nước lớn, nhỏ được bán tự do trên thị trường, sức lao động của người dân được giải phóng đáng kể và năng suất lao động cũng được tăng cao. Những loại phương tiện dẫn thuỷ nhập điền cổ truyền không còn cơ hội sử dụng, chỉ có một số rất ít xe đạp nước còn thỉnh thoảng được dùng đến. Kéo theo đó là ngành nghề thủ công truyền thống đang dần mai một đi. Nhận thức được điều đó, Bảo tàng Quảng Trị đã sưu tầm bộ đồ dùng cổ truyền trong sản xuất nông nghiệp của người Việt Quảng Trị về bảo quản, lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng trong đó có những hiện vật là phương tiện dẫn thuỷ nhập điền cổ truyền này, nhằm góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của dân tộc trên đất Quảng Trị.

                                                                                                                                                                                          Trần Thuỳ Ven

XEM THÊM VỀ VĂN HÓA VIỆT
VỀ NHỮNG SẮC PHONG TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ