Những di sản thuộc loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian
CHÈO CẠN - DI SẢN VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA NGƯ DÂN QUẢNG TRỊ

Cũng như các ngư dân vùng biển dọc miền Trung nước ta, từ Quảng Bình cho đến Bình Thuận - Chèo cạn là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian phổ biến của ngư dân Quảng Trị. Đúng như tên gọi của nó: Chèo cạn - tức là chèo thuyền ở trên cạn/trên đất và hò. Đây là một hình thức nghệ thuật diễn xướng dân gian có kết cấu nội dung, quy trình chặt chẽ, với một hệ thống phong phú các làn điệu được kết hợp logic, đã xây dựng thành một kịch bản hoàn chỉnh có giá trị nghệ thuật cao. Thông thường chèo cạn thường được diễn ra trong các dịp cúng tế lễ như cầu mùa, mừng công và tiễn vong linh người đã khuất về nơi chín suối nhằm tăng thêm phần long trọng, tính trang nghiêm đồng thời thể hiện tấm lòng thành tâm hiếu thảo sự đền ơn đáp nghĩa của người còn sống đối với người đã chết. Đội chèo cạn là những người làm ruộng, thợ mộc, đánh cá, buôn bán nhỏ trong làng có năng khiếu về ca hát, đánh đàn, thổi sáo, thổi kèn được tập hợp lại dưới sự điều khiển của một ông đội trưởng chuyên lo phục vụ nghi lễ của làng, của các họ tộc và những đám tang. Cũng có khi đội chèo cạn đi phục vụ khắp nơi trong vùng mỗi khi có nhu cầu.

Ở Quảng Trị, trước đây nhiều làng có chèo cạn, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến 2 làng có chèo cạn nổi tiếng thuộc 2 huyện Vĩnh Linh và Do Linh đó là chèo cạn làng Tùng Luật và chèo cạn làng Mai Xá Thị.

Chèo cạn làng Tùng luật - ảnh sưu tầm

Theo những bậc cao niên của làng Tùng Luật cho biết thì chèo cạn làng Tùng ra đời trong khoảng những năm cuối thế kỷ XIX. Vốn được du nhập từ các tỉnh Nam trung bộ mà cụ thể là ở Quảng Nam, Đà Nẵng. Người trực tiếp đưa loại hình nghệ thuật này về với làng là ông Nguyễn Hữu Như Bá. Trên cơ sở lĩnh hội, tiếp thu và truyền dạy của ông Bá, qua thời gian người Tùng Luật đã có những cải biên đáng kể nhằm phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Về nguồn gốc và thời gian ra đời của chèo cạn ở làng Mai Xá Thị, cho đến bây giờ chúng tôi vẫn chưa có được một tư liệu thành văn nào đề cập đến vấn đề này. Nhưng theo lời kể của các cụ già thì người làng Mai Xá Thị xưa chủ yếu làm nghề biển và buôn bán giao lưu với nhân dân khắp các vùng trong và ngoài tỉnh. Người ta cho rằng: Chèo cạn làng Mai có được là do một người có tên là thợ Lẫm, người làng Cửa Tùng vào lấy vợ ở làng Mai và truyền dạy chèo cạn cho dân làng Mai Xá Thị. Cũng có một vài ý kiến cho rằng chèo cạn ở làng Mai Thị đã có từ trước và ông thợ Lẫm chỉ là người bổ sung thêm. Vậy chúng ta tạm chấp nhận rằng chèo cạn ở làng Mai ra đời cùng hoặc sau chèo cạn làng Tùng.

Chèo cạn thông thường có hai bài cơ bản đó là hò chèo cạn cầu mùa và hò chèo cạn đưa linh. Như phần trên đã đề cập, cái cốt lõi của những điệu chèo ấy lại chính là hát trong các dịp lễ cầu ngư và lễ đưa linh cho cá voi. Sau này người dân sử dụng trong cả lễ đưa linh những người quá cố về với tổ tiên ông bà. Loại hình này được dùng nhiều trong các làng làm ngư nghiệp. Chủ thuyền đã nhiều lần ra khơi đánh bắt cá mà không thu được kết quả cao nên họ mới làm lễ cầu ông voi phù hộ để tìm được luồng cá. Đó chỉ là một tín ngưỡng của người dân vùng biển nhưng thực sự là một tín ngưỡng rất “văn hóa”. Những năm trước, khi người dân gặp bão bỏ mạng ngoài biển cả, dù có người vớt được xác hay không vớt được xác người ta cũng phải làm lễ chèo trên bờ biển để cầu cho những vong linh ấy được về với tiên tổ và biết đường tìm về nhà.

Chèo cạn cầu mùa được trình diễn trong lễ hội cầu ngư trước đây của làng. Xuất phát từ quan niệm cho rằng giữa biển cả bao la luôn có một thế giới thần linh tồn tại song hành với cuộc sống mưu sinh của họ. Do đó, trong cơ cấu lễ hội hàng năm có lễ hội cầu ngư nhằm cầu mong thần linh phù hộ, che chở cho mọi người được bình an, không gặp bất trắc hiểm nguy khi ra khơi. Cầu cho trời yên biển lặng, mùa vụ được thắng lợi, tôm cá đầy thuyền... Chèo cạn cầu mùa được thể hiện bằng một âm hưởng vui tươi phấn khởi với các làn điệu dân gian như xuân phong long hổ, ca lý ngư, nam bằng, hò khoan, hò hụi, hò mái nhì, mái xấp... Nội dung chính xoay quanh việc ngợi ca cảnh vật, con người và niềm tin cuộc sống, đồng thời tái hiện lại quá trình mưu sinh phải vật lộn với sóng gió biển cả và thành quả lao động cuối cùng có được.

Chèo cạn đưa linh xuất phát từ quan niệm của con người, đây là chuyến đò cuối cùng tiễn đưa đời người qua dòng sông sinh tử. Bởi thế nhân dân ta có câu: Kiếp sau hoá người sau kẻ trước/Dắt dìu nhau mà bước qua đò là vậy. Cho dù là chèo cạn cầu mùa hay chèo cạn đưa linh thì khi trình diễn thường có 2 đội. Trong đó, chèo cạn cầu mùa có 24 người gồm: 1 người cầm lái chỉ huy, 1 người đứng mũi, 1 người chơi đàn nhị, 1 người đánh trống, 4 người hát và 16 bá trạo chia làm hai hàng; 16 bá trạo này trước đây là nam giới, ngày nay thì nữ giới cũng có thể tham gia. Đối với chèo cạn đưa linh thì gồm 23 người, không có người đứng mũi. Mỗi khi trong làng hay ở nơi nào đó có người “quy tiên” tang chủ bưng cơi trầu, chai rượu đến nhờ thì dù đang bận việc gì ông cai cũng bỏ dở đấy, vội vàng đi triệu tập các thành viên trong đội chèo cạn vào đám. Ông cai trong bộ đồ nhiều màu, khăn đỏ cột ngang đầu tay cầm mái chèo. 2 người chơi đàn nhị và đánh trống mặc áo dài đen đầu đội khăn đóng, chân đi giày; 4 người hát 2 nam mặc bộ bà ba, 2 nữ mặc áo dài, chân đi giày. Những người còn lại trong trang phục bà ba màu hồng, màu xanh da trời đầu thắt khăn màu vàng, lưng thắt đai lụa màu xanh lá cây, chân đi giày vải màu trắng; 8 người cầm chầm mặc quần áo bà ba màu xanh da trời, tay cầm bông/hoa sen.

Đình làng, nhà thờ hoặc miếu là không gian diễn ra chèo cạn cầu mùa. Khi 3 hồi trống vừa dứt thì đội múa bông/hoa bước ra. Lúc này trống và đàn nhị hòa âm cất lên thì 8 người chia làm 2 tốp theo nhịp trống chạy đan chéo nhau xếp thành hàng dọc rồi chuyển qua xếp hàng ngang sau đó chạy thành một vòng tròn rồi lui vào bên trong.

Tiếp theo người đứng mũi bước ra xưng danh. Ông lái bước ra và đồng thời gọi bá trạo ra. Ngay lập tức 8 người cầm chầm và 4 người hát nhanh chóng đều bước ra vừa thể hiện các điệu hò vừa trình diễn động tác chèo thuyền. Trong quá trình các bá trạo chèo thuyền thì đội múa bông cũng bước ra và múa. Toàn đội sẽ trình diễn dưới sự điều khiển của ông lái cho đến khi kết thúc tiết mục thì mọi người lui vào bên trong, kết thúc biểu diễn.

Chèo cạn đưa linh trình diễn trong đám tang, khi đến giờ đã định đội chèo cạn tập hợp thành một hàng đứng ngoài cổng gia chủ chờ ông thỉ sự truyền, ông thỉ sự hò: “Truyền Ba trạo đội”. Lúc này đội chèo cạn đáp lại “Thừa mạng”. Nếu đội chèo cạn trình diễn vào ban ngày thì khi tiến từ ngoài cổng vào sân diễn, đám bạn chèo đi theo hàng một, dẫn đầu là tổng mũi, tiếp đó là đám bạn chèo và tổng lái vừa đi vừa nhảy “hàng xà và trứ tụ”. Cây chèo cầm dựng đứng bên tay phải, mũi chèo hướng lên trời. Đến điểm quy định trình diễn, đám diễn đi thành vòng tròn rồi tách ra 2 hàng (các bạn chèo mang số lẽ từ 1, 3, 5, 7... thành một hàng và các bạn chèo mang số chẳn từ 2, 4, 6, 8 ... thành một hàng) để cúng linh. Sau đó trở về một hàng nhảy “hàng xà và tứ tụ” và xếp thành 2 hàng. Lúc này có 2 người phục vụ đem 2 mảnh thuyền vào ghép thành chiếc thuyền tượng trưng. Đội chèo cạn bước vào thuyền, đứng đầu giữa hai hàng bạn chèo là tổng mũi, sau cùng là tổng lái.

Nếu đội chèo cạn diễn vào ban đêm thì tay không cầm chèo mà cầm hoa đăng khi tiến từ ngoài cổng vào sân diễn, đám bạn chèo đi theo hàng một, dẫn đầu là tổng mũi, tiếp đó là đám bạn chèo và tổng lái vừa đi vừa nhảy “hàng xà trứ tụ” tiếp đó là nhảy bông (nhảy 1 bông đến 4 bông) rồi chuyển sang nhảy chữ (đối với người chết trẻ thì nhảy chữ “NHƠN - TỬ - CHÍ - HIẾU”, nếu người già đủ bốn đời chết thì nhảy chữ “TỨ - ĐẠI - ĐỒNG - ĐƯỜNG”, tiếp đến chia làm hai hàng để cúng linh. Sau đó trở về một hàng nhảy “hàng xà và tứ tụ” và xếp thành hai hàng. Lúc này có 2 người phục vụ đem 2 mảnh thuyền vào ghép thành chiếc thuyền tượng trưng và đưa mái chèo cho đội chèo cạn. Đội chèo cạn bước vào thuyền, đứng đầu giữa hai hàng bạn chèo là tổng mũi, sau cùng là tổng lái. Lúc này toàn đội đứng ở tư thế tựa người chèo thuyền, đôi tay đưa đẩy mái chèo nhịp nhàng khoan thai miệng hát theo điệu hò đưa linh.

Kết thúc buổi diễn, tổng lái gõ hai tiếng sanh tất cả đám bạn chèo cầm cán chèo dựng chèo thẳng mũi lên cao. Khi nghe tiếng sanh tiếp thì đám bạn chèo nhập thành hàng một, cây chèo vẫn cầm dựng đứng như tư thế lúc ban đầu khi trình diễn, sau đó gạt thuyền ra theo lời hò:

“Lui thuyền khỏi bến tân giang tân phất phơ buồm liễu, tay lần ba lèo ba”. Lúc này đội chèo cạn theo tổng lái đi khuất vào trong.

Trường hợp trình diễn khi di chuyển quan tài.

Khi di chuyển quan tài ông cai đi trước quan tài kiểu giật lùi tay gõ sanh điều khiển âm công khiêng quan tài, còn đội chèo cạn cầm mái chèo trên tay chia làm hai hàng đi hai bên hoặc đi phía trước quan tài, vừa đi vừa làm động tác chèo thuyền nhịp nhàng đưa đẩy. Tất cả cùng hát nhịp nhàng điệu hò đưa linh. Nếu quan tài di chuyển trên bộ mất nhiều thời gian, có thể hát lặp lại điệu hò đưa linh vài ba lần. Hoặc dùng bát âm thay cho lời hát. Tiếp đó ông mũi đánh một hồi sanh và phường bát âm cùng hòa chung một điệu nhạc nam khách. Âm nhạc kéo dài chừng năm phút, đội chèo cạn hát tiếp bài hò mái xắp với nội dung kể lể, than vãn.

Hò đưa linh của đội chèo cạn là nhằm tiễn đưa vong linh người chết đi về với thế giới bên kia. Âm hưởng của chèo cạn đưa linh mang tính buồn thương, da diết nhiều hơn và thường được thể hiện bằng các làn điệu như nam ai... Bài hò đưa linh được thể hiện dưới các hình thức: Hò thường, hò nam khách và hò mái xấp. Đối với hò thường thì ông cai và các tay chèo cùng hò. Đối với hò nam khách thì các tay chèo ngừng hò chỉ có ông cai cất tiếng than biểu lộ tâm trạng nhớ thương, tiếc nuối đối với người đã mất. Đến đoạn hò mái xấp ông cai và các tay chèo hò những điệu hò với âm điệu gấp dồn dập với điệu bộ chèo thuyền hối hả và đều đặn. Bài hò dài có khi hàng nghìn câu, nội dung của bài hò đưa linh chủ yếu là kể lể công đức trời biển nuôi nấng tao dưỡng của bậc quá cố đối với con cái cháu chắt đồng thời tỏ rõ lòng tiếc nuối, sự thành kinh của những người còn sống cầu mong cho người đã khuất về nơi “suối vàng” được “mồ yên mã đẹp”, cho linh hồn của họ được siêu thoát nơi cực lạc.

Có thể nói rằng, nét đặc sắc của chèo cạn là chèo thuyền trên cạn chứ không phải chèo thuyền thông thường trên sông nước. Chèo cạn thể hiện cốt cách hào sảng, tình cảm chân thành, yêu chuộng nhân nghĩa của người dân. Thể hiện những hiểu biết về nghi thức, nghi lễ cũng như tập tục tế lễ của người Việt; phản ánh sự phong phú và đa dạng trong đời sống tín ngưỡng của người Việt Quảng Trị về một thế giới siêu hình có phần chi phối đến đời sống của người dân. Chèo cạn cầu mùa thì cầu cho trời yên biển lặng, mùa vụ được bội thu, tôm cá đầy thuyền... Gạt bỏ những yếu tố có tư tưởng siêu hình huyễn hoặc trong đám tang, trong cúng tế có tính chất ma chay đồng bóng. Chúng ta nhận thấy rằng phong tục đưa linh chèo cạn trong đám tang đang tồn tại và phát triển ở một số làng tại Quảng Trị trước hết thực sự là hình thức nghệ thuật trình diễn dân gian mang đậm tính quần chúng; sau đó là thể hiện nguyên tắc đạo lý làm người của dân tộc Việt coi trọng công đức tổ tiên, lòng thành tâm hiểu thảo của người còn sống đối với người đã chết như một sự đền ơn đáp nghĩa. Thiết nghĩ trong cuộc sống đương đại ngày nay cùng với sự đan xen của nhiều loại hình văn hóa khác nhau thì loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian đặc sắc này cần được lưu giữ và bảo tồn./.

                                                                                                                                                                                                   Nguyễn Thị Lệ Hiền

XEM THÊM VỀ NHỮNG DI SẢN THUỘC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN DÂN GIAN
MÚA XẾP CHỮ LÀNG CÁT SƠN MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA CỦA NGƯỜI PA CÔ Ở QUẢNG TRỊ MÚA ĐỒNG NÁP LÀNG HÀ TRUNG CỜ CHÒI - TRÒ CHƠI DÂN GIAN ĐẶC SẮC Ở QUẢNG TRỊ