Những di sản thuộc loại hình Nghề thủ công truyền thống
LÀNG LAN ĐÌNH VỚI NGHỀ THỦ CÔNG ĐAN LÁT

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xuất hiện rất nhiều ngành nghề thủ công mang tính truyền thống của một vùng/miền, trong đó có nghề đan lát ở vùng đất Lan Đình, Gio Phong, Gio Linh. Với đặc tính của cư dân nông nghiệp trồng lúa và hoa màu nên thời gian nhàn rỗi nhiều; hơn nữa, xuất phát từ thực tiễn của cuộc sống, khi điều kiện kinh tế xã hội đang ở trình độ thấp, chưa thể tiếp cận được với những dụng cụ lao động hiện đại nên người dân đã nghĩ đến việc tự làm lấy những vật dụng cần thiết nhằm phục vụ cho quá trình sống, lao động và sinh hoạt. Trải qua bao biến đổi của thăng trầm cuộc sống, nhiều nghề khác đã bị mai một dần rồi mất hẳn, nhưng riêng nghề đan ở làng Lan Đình vẫn được duy trì và tồn tại như một nét văn hóa truyền thống riêng của vùng quê này.

1. Đôi nét về sự hình thành và phát triển của làng Lan Đình

Làng Lan Đình nằm về phía bắc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; cách trung tâm huyện lỵ Gio Linh khoảng 2km; phía bắc giáp thôn Gia Môn; phía nam giáp thị trấn Gio Linh; phía tây giáp thôn Tân Lịch (xã Gio Bình); phía đông giáp sông Cánh Hòm.

Làng Lan Đình là một trong những làng xã của người Việt được hình thành tương đối sớm trên vùng đất Quảng Trị thông qua những chính sách di dân, mở mang lãnh thổ về phương Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt. Làng Lan Đình lúc đầu mới thành lập có tên gọi là Hương Gia. Theo ghi chép của chính sử, tên gọi Hương Gia đã xuất hiện trong sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An (Ất Mão - 1555) là một trong 65 xã thuộc châu Minh Linh, phủ Tân Bình 1. Tìm hiểu về gia phả của một số dòng họ lớn trong làng như: Họ Trần, Nguyễn Văn, Nguyễn Đình… chúng tôi được biết các họ đã tồn tại cho đến nay khoảng 19 đến 20 đời (trung bình mỗi đời tính 25 năm), tức là khoảng gần 500 năm. Đối chiếu với sự xuất hiện tên làng qua tư liệu chính sử từ “Ô châu cận lục” có sự tương đồng với gia phả của một số dòng họ lớn trong làng nên chúng tôi khẳng định làng xã Hương Gia/Lan Đình ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XV. Đến thời các chúa Nguyễn, tên gọi Hương Gia được đổi thành Hương Đình. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn thì Đương Đình là một trong 25 xã/phường thuộc tổng An Xá, huyện Minh Linh, phủ Quảng Bình 2.

Sang thời Nguyễn, triều vua Minh Mạng (1835), huyện Minh Linh được chia tách thành 2 huyện: Địa Linh và Minh Linh. Lúc bấy giờ, làng Hương Đình thuộc địa giới hành chính của huyện Địa Linh. Năm 1886, thời vua Đồng Khánh (1886), cho đổi tên huyện Địa Linh thành Gio Linh, do vậy tên làng/xã Hương Đình thuộc tổng An Xá, huyện Gio Linh. Đến triều vua Khải Định, tên gọi Hương Đình được đổi thành Lan Đình 3.

Sau cách mạng tháng Tám, Lan Đình là một trong 9 làng thuộc xã Linh Phong. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, xã Linh Giang và Linh Phong nhập thành xã Linh Châu, Lan Đình lúc này là một trong 12 làng thuộc xã Linh Châu 4. Dưới thời VNCH, thôn Lan Đình thuộc xã Gio Lễ, quận Gio Linh 5. Sau ngày đất nước thống nhất, thôn Lan Đình thuộc xã Gio Phong, huyện Gio Linh.

Nguồn gốc dân cư hình thành nên làng Lan Đình chủ yếu từ vùng đất Thanh - Nghệ - Tĩnh vào. Người có công khai lập làng và được dân làng tôn thờ là Ngài khai khẩn có tước hiệu là Thị Anh Bá Tôn Thần. Ông là người gốc Thanh Hóa nhưng cho đến nay, vẫn chưa có nguồn tư liệu ghi chép nào ở địa phương hay chính sử ghi rõ tên thật của vị này. Về sau, để ghi nhớ công lao to lớn của ông nên khi mất, dân làng đã đắp mộ và lấy ngày 1 tháng 2 âm lịch hàng năm làm lễ tế và tảo mộ. Ngoài ra, dân làng còn phong thờ thêm 6 người đứng đầu các họ/phái làm hậu khai canh đó là: Nguyễn Văn Ngút, Trần Công Luận, Nguyễn Văn Lư, Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Đâu và Nguyễn Đình Lãnh 6.

Trải qua hàng trăm năm phát triển cùng lịch sử của dân tộc, làng Lan Đình vẫn luôn mang trong mình một nét văn hóa đặc trưng riêng của một vùng quê thuần nông sống chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa và hoa màu. Với đặc tính cần cù, chịu khó nên bên cạnh hoạt động nông nghiệp, cư dân Lan Đình đã nghĩ ngay đến việc sáng tạo cho mình nghề thủ công đan lát nhằm vừa phục vụ nhu cầu cuộc sống và kiếm thêm nguồn thu nhập trong những lúc nông nhàn.

2. Nghề đan lát làng Lan Đình

Cho đến nay vẫn chưa có nguồn tư liệu nào ở địa phương ghi chép cụ thể và chính xác về thời gian ra đời nghề đan lát ở làng Lan Đình. Theo các cụ cao niên trong làng thì từ khi làng thành lập, nghề đan lát cũng dần được xuất hiện. Từ đó, bao lớp con cháu của làng Lan Đình vẫn nối tiếp nhau từ đời này qua đời khác, thế hệ này sang thế hệ khác truyền nghề lại cho nhau làm nên biết bao sản phẩm tiện ích cho nhà nông. Nghề đan lát từ đó được tồn tại, phát triển và trở thành một nghề truyền thống của vùng đất Lan Đình được lưu truyền cho đến ngày nay.

* Nguyên vật liệu

Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình đan lát bởi nó quyết định đến độ bền đẹp của sản phẩm, hay nói đúng hơn thì tuổi thọ và tính thẩm mỹ của sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào khâu chọn nguyên liệu.

Tre là loại nguyên liệu chính được chọn để làm nên những sản phẩm đan lát thủ công của làng Lan Ðình. Tre thuộc nhóm thân gỗ, rễ chùm, ruột rỗng, thân tre phân thành nhiều đốt, khoảng cách giữa các đốt có các mấu mắt. Tre là loại cây dễ thích nghi với mọi loại đất nên rất dễ trồng. Ở làng Lan Đình với địa hình đồi đất đỏ bazan nên ngoài việc trồng hoa màu ở những nơi địa hình bằng phẳng thì người dân còn trồng thêm tre ở rìa làng hoặc ở nơi có địa hình cao nhằm giữ đất. Do vậy, nguồn nguyên liệu phục vụ cho nghề đan lát chủ yếu có sẵn ở địa phương.

Theo kinh nghiệm, cây tre vào tháng giêng, tháng hai không bị mối mọt nên đây là thời kỳ các vườn tre được khai thác nhiều nhất. Cây tre được sử dụng để đan lát phải có thân thẳng, đốt dài, thưa mắt, đủ độ già và không bị mối, mọt phá. Những cây tre bị ngã đ hoặc gãy ngọn sẽ không được chọn vì bị xốp do mất nước, dễ bị mọt không bền 7.

Tùy theo loại sản phẩm để chọn loại tre cho phù hợp. Nếu đan sàng, dần, trẹt, nôống, nẽn thì chọn tre lồ ô, vì cây tre lồ ô có đốt dài, ít mắt, dễ chẻ và dễ đan. Nếu đan thúng thì chọn tre già, vì loại tre này đặc ruột và đốt dày, mắt nhiều. Sau khi chặt và đưa tre về nhà, người thợ tùy theo kích cỡ của sản phẩm để đo rồi cưa tre thành từng đốt cho phù hợp. Phần ở gốc tre thường được sử dụng để làm vành/nẹp vì đoạn này tre đặc, phần thân tre dùng để đan, ngọn tre có ruột mỏng hơn nên dùng để đát.

* Loại hình sản phẩm

- Các sản phẩm từ nghề đan lát thủ công vô cùng phong phú và được phân chia thành nhiều loại:

+ Loại phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày: rổ, rá, trẹt, gàu, kiềng, nôi...

+ Loại phục vụ cho đánh bắt như: oi, nò, nơm...

+ Loại phục vụ trong sản xuất nông nghiệp: thúng, mủng, dần, sàng, nẽn, nôống...

- Kích thước của một số sản phẩm thông dụng:

Loại sản phẩm

Nôống

Nẽn

Thúng

Trẹt

Dần

Sàng

Rổ lớn

Rổ nhỏ

Đường kính miệng (m)

1,6

1,2

0,6

0,5

0,5

0,5

0,6

0,4

Ðây là kích thước tương đối của một số loại sản phẩm thông dụng, còn một số sản phẩm khác như: lồng, gàu, nôi, oi, nò, nơm..., còn lại gần như không cần một sự quy định về chiều dài của đốt tre mà tùy khách đặt hàng để người thợ đan cho thích hợp.

* Quy trình chế tác sản phẩm

Quy trình chế tác của mỗi loại sản phẩm đều trải qua các công đoạn chẻ, vót, đan, đát, lận/nẹp, nức.

Chẻ nan: Tre sau khi được cưa thành từng đốt theo từng kích thước của sản phẩm, người thợ tiến hành chẻ nhỏ đốt tre thành những nan tre. Tùy theo sản phẩm cần đan và nhu cầu của người đặt hàng để chẻ các nan tre có độ dày mỏng và lớn nhỏ khác nhau sao cho phù hợp. Thông thường, những sản phẩm như: thúng, nôống, nẽn, rổ, rá thì chẻ dọc thanh tre (tức là bao gồm cả ruột và cật); còn những sản phẩm như sàng, dần, trẹt thì người thợ sẽ tách thanh tre thành 2 phần cật và ruột, phần cật dùng để đan sàng, dần; phần ruột dùng để đan trẹt.

Vót nan: Người thợ sẽ quấn một lớp vải quanh ngón tay trỏ (thuận bên nào thì chọn tay trỏ ở bên đó) tránh bị đứt tay khi tỳ nan tre vào ngón tay để kéo. Yêu cầu của công đoạn này là người vót phải đều tay và vót làm sao để từng nan tre được trơn bóng và đều nhau. Nếu vót không đều tay thì khi đan sản phẩm sẽ có nơi dày nơi mỏng không đạt chất lượng và kém thẩm mỹ.

Sau khi vót xong, người thợ sẽ đưa nan tre ra phơi nắng hoặc hong qua lửa để nan tre khô ráo, sau đó, người thợ bắt đầu ngồi vào đan tạo nên những thành phẩm theo ý muốn.

Đan: Đan là công đoạn nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi người thợ phải khéo léo và tỉ mẫn. Để một sản phẩm đạt chất lượng tốt yêu cầu người đan phải đều tay để từng đường đan được sắc nét và bằng nhau. Bất kỳ sản phẩm nào khi đan cũng được chia thành 3 phần: phần vành, thân và đáy.

Trước tiên, người thợ tiến hành đan các nan tre đầu tiên từ chính giữa lòng sản phẩm rồi đan dần ra các phía xung quanh cho phù hợp với kích thước. Tùy theo công năng sử dụng của từng loại sản phẩm cụ thể mà người thợ thực hiện kiểu đan theo đúng ý đồ của mình, như đan lồng 1 (lồng đơn), lồng 2 (lồng đôi), lòng thúng, lòng thia... Thông thường, đối với các loại rổ lớn thì người thợ chọn kiểu đan lồng 2 (bắt 2 đè 2 nan tre); rổ nhỏ hoặc rá thì chọn kiểu đan lồng 1 (bắt 1 đè 1); thúng, mủng thì chọn kiểu đan lồng thúng (bắt 2 đè 3 bắt 4); nẽn thì chọn kiểu đan lồng thia (bắt 2 đè 5). Trong bốn kiểu đan này thì kiểu đan lồng thúng là khó đan nhất, đòi hỏi người thợ khi mới tập đan phải cần mẫn, chịu khó để học cách thì mới đan được.

Đát: Trên cơ sở tấm đan đã có người thợ dùng các nan tre nhỏ hơn để đát ở 4 phía xung quanh nhằm tạo độ cứng cho phần thân của sản phẩm. Nếu sản phẩm đang đan mà có lòng sâu như các loại thúng, rổ, nôống, nẽn thì phải chừa mắt đát dài; ngược lại, nếu là loại có lòng cạn như dần, sàng, trẹt… thì chừa mắt đát ngắn hơn. Tre dùng để đát được chẻ nghiêng bao gồm cả cật và ruột, vót nhẵn tạo độ bóng và khi đát vào sản phẩm nhìn đẹp mắt hơn. Đát hết mặt này thì quay qua mặt khác, cứ như thế đát hết bốn mặt thì hoàn thành.

Nghề đan lát làng Lan Đình (Ảnh TL)

 

Lận: Lận hay còn gọi là nẹp vành cho sản phẩm, đây là công đoạn đòi hỏi các nghệ nhân có thâm niên trong làng và chuyên nghề mới làm được. Công đoạn này thường được giao cho nam giới, có sức khỏe, mạnh tay mới hoàn thiện được những chiếc vành tròn và đẹp. Để thực hiện tốt công đoạn này yêu cầu người thợ phải chọn chiếc vành được vót đều để khi uốn không bị méo hay lồi lõm. Sau khi chọn xong, người thợ sẽ vót mỏng hai đầu vành rồi uốn tròn lại.

Một sản phẩm hoàn thiện sẽ có hai chiếc vành: Chiếc vành trong (nẹp trong) và chiếc vành ngoài (nẹp ngoài). Sau khi uốn hoàn thiện hai chiếc vành, người thợ sẽ đặt chiếc vành trong vào lòng sản phẩm và chiếc vành ngoài đặt dưới sản phẩm rồi dùng chân để đạp tấm đan xuống và kéo vành ngoài lên sao cho chiếc vành ngoài kẹp vào sản phẩm khít chặt với chiếc vành trong. Sau đó, lấy đục nhọn chui lỗ qua sản phẩm rồi dùng lạt buộc chặt miệng vành. Khoảng cách giữa các múi lạt phải được cân đối đảm bảo sao cho miệng vành phải khít và chắc.

Nức: Là công đoạn cuối cùng để hoàn thiện một sản phẩm. Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải cẩn thận trong từng đường khâu sao cho khoảng cách giữa các đường khâu phải thật đều nhau. Trước đây, mây là vật liệu dùng để nức. Tuy nhiên, hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa sợi cước được dùng để thay thế mây. Người thợ chỉ cần dùng sợi cước buộc chặt vào một đầu lỗ kim sau đó dùng kim chui vào mép dưới của vành, kim chui ở lỗ nào đường cước đi theo lỗ ấy thành từng vòng. Song song với việc kéo đường kim, người ta dùng một thanh tre được uốn cong theo dạng hình bán nguyệt (còn gọi là lợi) áp lên giữa vành trong và vành ngoài để che nan tre.

Có 2 kiểu nức: nức thắt và nức tuột. Nức thắt tức là sau mỗi nút nức được rút cố định bằng một múi thắt. Nức tuột là chỉ thắt cố định múi cuối cùng của sợi cước hoặc khi đã nức xong sản phẩm sẽ thắt để cố định nút nức. So với nức tuột thì nức thắt chắc chắn hơn vì khi bị sờn đứt ở bất kỳ một múi nào trong sản phẩm thì sẽ không bị ảnh hưởng đến các múi khác. Do đó, nức thắt thường được áp dụng đối với những loại sản phẩm có độ chịu nặng cao và dùng trong thời gian dài như thúng, dần, sàng…

Như vậy, để hoàn thiện một sản phẩm thủ công từ cây tre người thợ phải tiến hành đầy đủ các khâu: Chọn tre, cưa tre, chẻ nan, vót nan, đan, đát, lận, nức. Mỗi khâu là cả sự tâm huyết và lòng kiên nhẫn được người thợ gửi trọn vào trong từng sản phẩm để làm nên giá trị của một ngành nghề thủ công truyền thống của làng Lan Đình.

* Thị trường tiêu thụ

Với nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương nên mỗi sản phẩm thủ công đan lát làm ra được bán với giá vừa phải, phù hợp với điều kiện người tiêu dùng. Đặc biệt, người dân Lan Đình không sử dụng hóa chất trong mọi công đoạn sản xuất hay bảo quản sản phẩm. Vì vậy, tất cả các mặt hàng đan lát thủ công của làng đã nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của xã hội và dần dần đứng vững trên thị trường trong và ngoài tỉnh. Sản phẩm làm ra được người buôn đến tận từng nhà để thu gom và đưa đi bán ở chợ Phiên (Cam Lộ), chợ Đông Hà, chợ Do (Vĩnh Tân) và các chợ huyện trong tỉnh. Mặc dù là một nghề thủ công được bà con nông dân thực hiện trong những lúc nhàn rỗi sau mùa vụ, nhưng nguồn thu nhập từ nghề đan lát đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy đời sống kinh tế cho bà con. Theo lời kể của một số người thợ ở địa phương, thu nhập bình quân tháng của mỗi gia đình làm nghề đan lát là khoảng 4 triệu đồng. Số tiền đó tuy không lớn nhưng cũng tạm đủ để chi phí, trang trải thêm cho cuộc sống gia đình trong thời gian nhàn rỗi.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồ nhựa ra đời với nhiều sản phẩm rổ, rá nhựa, túi ni lon, máy xay xát với việc sử dụng thiết bị điện sàng lọc gạo và sạn…; do vậy, sản phẩm đan lát thủ công làm ra có nguy cơ bị thay thế dần và sự tiêu thụ sản phẩm từ tre trở nên khó khăn. Hơn nữa, công việc đan lát ở địa phương còn nhỏ lẻ, lao động tham gia chưa nhiều, chủ yếu là tranh thủ lúc nông nhàn; công tác giới thiệu, quảng bá sản phẩm còn hạn chế và chưa có đầu ra ổn định là những thực trạng đáng bàn cho sản phẩm thủ công đan lát truyền thống.

Thiết nghĩ, để bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề đan lát truyền thống, làng Lan Đình cần có phương án rà soát lại các hộ gia đình còn bảo lưu được nghề đan; nghiên cứu tìm cách cải tiến công cụ và đa dạng loại hình sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần có giải pháp tìm đầu ra cho sản phẩm và nỗ lực quảng bá hình ảnh thông qua các trang web về làng nghề truyền thống và đưa sản phẩm thủ công tham gia các hội chợ được tổ chức ở địa phương hay hội chợ thương mại. Đồng thời, mở các lớp tập huấn, tham quan những mô hình đan lát điển hình trên địa bàn huyện, tỉnh để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm nhằm tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho người thợ và phát triển thêm nghề thủ công của mình. Hàng năm, chính quyền địa phương nên tổ chức các hội thi về nghề đan lát, tìm ra những cá nhân, tập thể đạt thành tích tốt để trao các giải thưởng xứng đáng nhằm khuyến khích họ có thêm động lực bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông. Bởi, việc bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công đan lát truyền thống mà ông cha đã gây dựng là một việc làm thể hiện nét văn hóa đặc sắc cần được các thế hệ gìn giữ./.

                                                                                                                                                                                               Nguyễn Thị Hằng

Tài liệu tham khảo và nhân chứng

1. Dương Văn An. Ô Châu cận lục. Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú giải. Nxb Giáo dục việt Nam, 2009.

2 Ban chấp hành Đảng bộ xã Gio Phong. Lịch sử Đảng bộ xã Gio Phong (1930 - 2015). Quảng Trị, 2017.

3. Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007.

4. Thường vụ Huyện ủy huyện Gio Linh. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Gio Linh (1930 - 1975). Nxb Đại học Huế, 2017.

5. Ông Nguyễn Ích Lân. Hiện ở tại thôn Lan Đình, xã Gio Phong, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

6. Bà Trần Thị Lợi. Hiện ở tại thôn Lan Đình, xã Gio Phong, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

7. Bà Trần Thị Tuyết. Hiện ở tại thôn Lan Đình, xã Gio Phong, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

 

1 Dương Văn An. Ô Châu cận lục. Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú giải. Nxb Giáo dục Việt Nam. 2009, tr. 30.

2 Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007,  tr. 102.

3 Dẫn theo tư liệu ghi chép của ông Nguyễn Xuân Lai: Lý do đổi tên từ Hương Đình sang Lan Đình là do chữ Hương trong Hương Đình kỵ với tên húy trong triều đình.

4, 5 Ban Chấp hành Đảng bộ xã Gio Phong. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Gio Phong (1930 - 2015). Quảng Trị, 2017, tr. 13 và 14.

6  Dẫn theo nguồn tư liệu đánh máy được lưu giữ tại đình làng Lan Đình.

7 Theo hồi ức của ông Nguyễn Ích Lân,  thôn Lan Đình, xã Gio Phong, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

                                                                                                                                                                                                               

XEM THÊM VỀ NHỮNG DI SẢN THUỘC LOẠI HÌNH NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
NGHỀ LÀM GIẤY Ở LÀNG PHỔ LẠI