Những di sản thuộc loại hình Lễ hội
LỄ BỎ MẢ VÀ TƯỢNG NHÀ MỒ CỦA NGƯỜI TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ

Cũng giống như các tộc người khác hiện đang sinh sống trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên, người Tà Ôi tin rằng thế giới tự nhiên là do một thần linh tối thượng tạo ra, đó là Giàng (Yang) tức là Trời. Mỗi sự vật, hiện tượng lại có các thần linh cai quản riêng như thần mặt trăng, mặt trời, thần sông, núi… Tín ngưỡng của người Tà Ôi mang màu sắc đa thần giáo và cho rằng “vạn vật hữu linh”. Đồng bào tin rằng, linh hồn là có thật. Sau khi chết, nó vẫn tồn tại nhưng không phải ở dạng vật chất mà trú ngụ trong phần xác người chết nên vẫn có thể tâm tình và ở gần người sống. Chỉ sau khi lễ bỏ mả kết thúc, ma của người chết mới ra đi vĩnh viễn và dường như “cuộc sống” sau khi chết, đối với người Tà Ôi mới là cuộc sống thực.

Lễ hội đâm trâu của người Tà Ôi (Ảnh: Yến Thọ)

Người Tà Ôi quan niệm mỗi con người đều có hai phần là phần xác và phần hồn. Hồn và xác là hai thế giới riêng biệt nhưng lại có quan hệ hết sức mật thiết với nhau. Hồn trú ngụ trong xác, khi con người chết đi là lúc hồn biến thành ma và ma cũng có cuộc sống riêng của loài ma. Hồn ma và hồn người sống có quan hệ mật thiết với nhau. Cho nên xuất phát từ quan niệm trên mà tục bỏ mả được hình thành. Người Tà Ôi hết sức coi trọng tang ma và mai táng người quá cố nên họ tổ chức rất long trọng, để mong con ma (phần hồn), không bắt bệnh tật và gây rủi ro cho con cháu. Những người chết do đau ốm, già yếu, chết ở nhà thì gọi là cu múi, được thờ cúng, được tổ chức tang lễ long trọng và được đưa vào nghĩa địa, còn những trường hợp chết bất đắc kỳ tử thì được xếp vào hạng pireng, không được thờ cúng và cũng không được chôn ở nghĩa địa của làng.

Theo quan niệm của người Tà Ôi, việc chôn cất thi thể người chết mới chỉ là bước đầu của công việc tang ma. Tang ma chỉ hoàn thành kể từ khi làm lễ bỏ mả với tượng nhà mồ. Đây là lễ cải táng cho những người đã khuất, thể hiện tình cảm của mình đối với người chết ở thế giới bên kia. Thời gian lúc chôn đến lúc cải táng nhanh chậm phụ thuộc vào việc chuẩn bị lễ vật. Lễ cải táng thường khá linh đình, tốn nhiều trâu, bò, lợn, rượu, gạo nếp và nhiều tiền bạc…

Lễ bỏ mả được xem như là một ngày hội của người Tà Ôi. Ngày ngày, mọi người trong , trong cabu xa mấy cũng phải về dự. Lễ kéo dài từ 2 - 5 ngày, gia đình giàu có tổ chức lễ hội đâm trâu cúng yàng, cúng cho cu múi. Khi mọi thành viên từ các nơi đã về tương đối đông đủ, mọi người trong yã, trong cabu vào rừng ma đào nấm mồ ngày xưa lên, nhặt xương cho vào tureng (quan tài nhỏ). Nếu người chết đã quá lâu, xương cốt không còn thì đồng bào chỉ lấy một ít đất tượng trưng trong huyệt mộ đã đào.

Tureng của cu múi không được mang vào làng chỉ được để gần suối hay đường đi, sau đó tiến hành cúng. Lễ cúng thường được tổ chức  từ 2 giờ chiều. Chủ lễ đứng trước bàn thờ đã bầy sẵn rượu, thịt, cơm cúng với giọng ê a vừa khóc vừa khấn lên rằng:

“Lạy hồn xác chết, hôm nay áo quan đã làm rồi, đã buộc lại rồi, đã chôn dấu rồi. Chúng tôi đem cơm, đem thịt đến đây cho hồn ăn, đem rượu đến đây cho hồn uống. Bởi vì từ nay chúng tôi sẽ bỏ hồn, sẽ quay lưng lại với hồn. Đất đỏ ở dưới, đất đen ở trên, hồn ở trong áo quan, hồn ở trong mả, nhà cửa của hồn ở giữa rừng tranh, ở giữa rừng sậy, hồn ở miền đất khác, hồn uống dòng nước khác. Xin hồn hãy đi xa, đừng kêu gọi, đừng lại gần, đừng thương yêu con cháu của hồn nữa… Từ nay chúng tôi không còn mang cơm, sẽ không còn mang nước, chúng tôi sẽ bỏ mả, sẽ không còn chăm sóc mả nữa…Thôi từ nay thế là hết! như lá mnay đã lìa cành, như lá mtêi đã tàn úa! Từ nay không còn đào lỗ, không còn làm nhà chòi, không còn than, không còn khóc. Sẽ không còn để tang, sẽ không còn kiêng cữ nữa, ché rượu cúng đã đặt xuống mả rồi, cây chuối, cây khoai đã được trồng bên mả rồi. Chúng tôi đã quên hồn rồi, đã bỏ hồn rồi, lạy hồn xác chết”. Sau lời khấn ông thả một con gà vào rừng với ý nghĩa cũng từ đây hồn thôi không về nữa. 

Khi lễ cúng vừa xong, thì lập tức tiếng cồng chiêng rộn rã nổi lên. Theo nhịp âm thanh cồng chiêng mọi người hòa vào đoàn múa diễu quanh quan tài, tiếng nhạc cồng chiêng của đêm bỏ mả như có một sức hút diệu kỳ, kéo tất cả dân làng, kéo bà con họ hàng ở làng bản gần xa tới. Càng về khuya, tiếng cồng chiêng càng rộn rã, thôi thúc, các đống lửa càng bùng to hơn, nhịp chân múa nhảy càng rộn rã hơn. Hầu như suốt cả đêm cho đến sáng, cả làng quây quần bên ngôi nhà mồ: ai múa nhảy cứ múa nhảy, ai đánh cồng chiêng cứ đánh; ai uống rượu cứ uống, ai mệt thì ngủ ngay bên những đống lửa ấm áp để sáng hôm sau bước vào ngày hội chính. Đồng bào Tà Ôi quan niệm trong dịp này nếu không nói hết những tình cảm những ước muốn thì sẽ không bao giờ có dịp giải bày. Chính vì thế đây cũng là lúc mọi người thay nhau nói, thay nhau nhảy múa, hát ca, kể lể… Điệu múa nhà mồ với những người nam và người nữ trong những bộ quần áo mang đậm màu sắc tộc người đã được ra đời trong khung cảnh đó. Hết thời gian làm lễ, họ đưa quan tài người quá cố vào yên nghĩ tại nhà mồ của dòng họ.

Ngôi nhà mồ chính là nơi người sống dành cho người đã mất như một sự bày tỏ lòng tưởng nhớ, để rồi sau đó, họ đoạn tuyệt vĩnh viễn trong đời sống vật chất - tinh thần lẫn các nghi lễ về lễ thức liên quan.

Nhà mồ được xây dựng công phu, đó là nơi thể hiện rất nhiều kiểu thức trang trí của cộng đồng tộc người, dùng để che chắn những chiếc quan tài thu nhỏ (quan tài được cải táng thường quay về hướng tây - hướng của mặt trời lặn, của đêm tối và của cõi chết). Vật liệu làm nên nhà mồ thường bằng gỗ, tranh, tre… khai thác từ núi rừng, ngôi nhà mồ lớn hay nhỏ, xấu hay đẹp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của gia đình người đã mất. 

Nhà mồ của người Tà Ôi ở xã A Bung (Ảnh: Võ Minh Hoàn)

 

Nhà mồ truyền thống thường được cấu trúc gồm 4 cột gỗ dài khoảng 80 - 100cm, 4 cột được bố trí ở 4 góc quan tài và cũng là huyệt mộ. Hai cây cột trước được trồng cao hơn hai cây cột sau chừng 5-10cm. Trên đầu các cây cột này được liên kết bằng 4 tấm ván rộng chừng 8-10cm. Trên mái lợp bằng gỗ hoặc tre nứa chẻ đôi rồi lợp theo kiểu sấp ngữa (âm dương) để che chắn cho quan tài. Hệ thống cột và các tấm ván liên kết chính là không gian để người Tà Ôi thể hiện nhiều mô típ trang trí liên quan đến dòng họ, vật tổ, những hoa văn kỷ hà hay hình người, hình chim, hình đầu trâu, hình rắn… vẽ bằng than củi trộn nhựa cây hoặc những mảng chạm điêu khắc thô ráp.  Các cột của nhà mồ là những tượng được điêu khắc theo lối tượng tròn cách điệu. Hình tượng chủ yếu là con người (có nam, có nữ). Có khi được tạo hình ở tư thế toàn thân đứng thẳng hoặc bó gối, lại có khi chỉ tập trung thể hiện phần đầu và khuôn mặt ở đoạn trên của cột. Tuy không quy mô và  đạt đến nghệ thuật cao như nhà mồ một số tộc người khác (Cơtu, Bana...) nhưng trên một phương diện nào đó, nhà mồ của người Tà Ôi cũng là một công trình khá độc đáo đậm chất Môn - Khơme. Nó cho thấy khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng tuyệt vời của các nghệ nhân Tà Ôi thể hiện nỗi đau, khát vọng về sự hồi sinh từ cõi chết, ước nguyện vĩnh hằng của con người trước thiên nhiên và vũ trụ. Nếu gạt bỏ yếu tố tín ngưỡng, giá trị còn lại của tượng nhà mồ là một loại hình nghệ thuật tạo hình đặc sắc.

Làm xong nhà mồ tức là người sống đã hoàn thành trách nhiệm với người đã khuất. Các cu múi giờ đã có nơi yên nghỉ vĩnh hằng, đã đi khỏi vùng đất quê hương, đã được con gà đưa về “buôn làng tổ tiên” bắt đầu một cuộc sống mới - cuộc sống của những hồn ma để chu kỳ tiếp theo sẽ lại trở về làm người. Sau lễ bỏ mả, không còn ai nhắc đến người đã khuất nữa và hình bóng người đã khuất chìm dần trong sự lãng quên.

                                                                                                                                                                                                                                                  Trần Thị Nhàn

 

 

XEM THÊM VỀ NHỮNG DI SẢN THUỘC LOẠI HÌNH LỄ HỘI
VAI TRÒ CỦA CÁC NGHI LỄ NÔNG NGHIỆP TRONG ĐỜI SỐNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀÔI/PA CÔ Ở MIỀN TÂY QUẢNG TRỊ LỄ MỪNG CƠM MỚI (A DA ) - NGÀY TẾT TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PA CÔ Ở QUẢNG TRỊ HỘI LÀNG NGÀY XUÂN NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CAO ĐẸP HỘI CƯỚP CÙ LÀNG CẨM PHỔ XÃ GIO MỸ, HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ