Những di sản thuộc loại hình Lễ hội
LỄ HỘI A RIÊU PIING CỦA NGƯỜI TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ

Đồng bào Tà Ôi/Pa Cô sống trên đại ngàn Trường Sơn tập trung nhiều ở miền Tây Quảng Trị vào đến Thừa Thiên Huế. Cuộc sống của người dân gắn liền với thiên nhiên hoang dã với những nét riêng độc đáo trong phong tục tập quán, phương thức canh tác và trong các sinh hoạt văn hóa. Trong đó Lễ hội A riêu piing (Bun A riêu piing) từ lâu được biết đến là lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của người Tà Ôi. Người Tà Ôi Cô quan niệm rằng khi lễ hội này được tổ chức thì vòng đời một con người mới thực sự kết thúc. Lễ hội A riêu piing là một lễ hội tổng thể cả về đời sống lẫn tâm linh. Người Tà Ôi quan niệm, xung quanh ta đang sống luôn tồn tại một thế giới siêu nhiên rất linh thiêng mà trong đời sống lao động nương rẫy và các mối tương quan giữa con người đều phải tôn trọng một cách nghiêm túc, nếu cố ý hoặc sơ ý đều phương hại đến đời sống bản làng và tính mạng con người. Bởi sự liên kết cộng đồng, làng bản thể hiện qua sinh hoạt phong tục tập quán, lễ nghi - đó là sợi dây vô hình rạng buộc và gắn chặt thành viên trong làng/bản  thành một khối đoàn kết.

Thông qua lễ hội A riêu piing nhằm khơi dậy nét đẹp văn hoá truyền thống, những tinh hoa ràng buộc sự gắn chặt thành một khối đoàn kết, đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, mọi gia đình và mọi làng bản từ xa xưa; giải quyết các vấn đề vướng mắc cả về phong tục, tập quán lẫn đời sống xã hội trong suốt những năm còn tồn đọng, chủ yếu là về mộ mã, từ sau lần tổ chức trước đây, biết bao người đã trở về cõi âm mà chưa có lăng mộ, nhiều mồ mã cũ đã bị hư hỏng, do thiên tai hoặc do chính con người tác động đến như: xây dựng các công trình phúc lợi, chuyển mục đích sử dụng đất...; giải quyết về mối quan hệ khơi - cuja (nội, ngoại) gần xa có dịp hội tụ cùng ra mắt cho con, cháu nhận biết nhau, bày tỏ tình cảm lâu ngày gặp lại và hẹn ước tương lai, tránh nhầm lẫn trong quan hệ hôn nhân của thế hệ trẻ mai sau; giải quyết về việc chuyển dời khu nghĩa địa, quy tụ hài cốt xây lăng, đắp mộ về một nơi nhất định, lâu dài nhưng phải thích hợp với tình hình hiện nay; Nâng cao nghĩa tình thuỷ chung với các làng lân cận, quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống; phân định lại ranh giới đất đai, đảm bảo tránh nhầm lẫn hay là tranh chấp địa phận trong việc quản lý và chịu trách nhiệm về tập tục cúng bái các Giàng/Thần thuộc tín nhiệm do chủ sở hữu khi được Hội đồng tộc trưởng và già làng (Ariaihs Vel) của các làng bầu chọn và phân công trách nhiệm của từng làng về quan hệ giao tiếp, ứng xử và đối phó, xử lý các tình huống có thể xảy ra từng ngày.

Lễ hội A riêu piing không cố định về thời gian, trong khoảng từ 5, 10 hoặc 15 năm mới tổ chức một lần bởi nhiều lý do: Đây là một lễ hội rất lớn, tốn kém rất nhiều kinh phí do đó chỉ được tổ chức khi dân làng đã có một cuộc sống kinh tế khá đầy đủ, được mùa thóc lúa. Hoặc là khi đột nhiên trong làng xảy ra các biến cố như mất mùa thường xuyên, thiên tai, dịch bệnh hay có nhiều người chết không rõ lý do, người Tà Ôi tin rằng đó là do các thần linh, người quá cố bắt phạt và phải làm lễ cúng để mong các thần linh, người quá cố phù hộ tránh tai ương, diệt trừ bệnh tật. Việc tổ chức lễ hội A riêu piing vào thời gian nào phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của già làng, bởi vì chính ông là người xem xét tình hình cụ thể và đưa ra quyết định cho dân làng là có tổ chức A riêu piing không. Khi nhận thấy đã đến lúc phải tổ chức lễ thì trước đó khoảng 2 tháng già làng sẽ tổ chức họp các trưởng họ lại để thông báo và phân công thực hiện các bước chuẩn bị.

Lễ hội Arieu-piing ở thôn A Đăng -  xã Tà Rụt  - huyện Đakrông - tỉnh Quảng Trị. ảnh ST

Để thực hiện lễ hội A riêu piing thì phải huy động nguồn lực của cả cộng đồng. Trong vòng một tháng, xem xét tình hình thực tế về điều kiện kinh tế của các hộ gia đình trong làng cũng như khả năng giúp đỡ của các làng lân cận và sự hỗ trợ của các tổ chức, các cấp chính quyền cho phép để tổ chức lễ hội A riêu piing.

Về lễ vật (Krơơng tâm p­ưc): lễ vật chung của cộng đồng làng gồm: 03 con trâu (01 con để hậu tạ Lăng (kết hợp cúng tổ tiên), 01 con cúng thần thổ địa, 01 con cúng thần núi), 02 con heo, 03 con gà, 03 hủ rượu cần, một hộ góp cho làng khoảng 05 kg gạo nếp và rượu.

Bên cạnh đó, một dòng họ phải có 01 con heo -  là qui định mang tính bắt buộc. Các hộ gia đình tuỳ theo khả năng và mức độ hiến tế đã định trước số lượng trâu, bò, dê, lợn, gà và phải báo cáo cho làng và giao cho làng quản lý các vật hiến tế này để phân phối lại để mời khách.

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các lễ vật sẽ tiến hành các nghi thức: Lễ đánh dấu vật hiến sinh, các dòng họ xéo tai lợn làm dấu hiệu và khấn Âm hồn cho người đã chết là lễ A riêu piing đã đến; Lễ rắc tro và chôn ché xuống đất, mời các trưởng họ đến làm lễ rắc tro vào con vật hiến tế, đồng thời ông chủ làng chôn cái ché trống không xuống đất báo hiệu A riêu piing đã đến; Lễ giải uế làng, cúng 01 con heo, 01 con gà, lấy tiết heo hoà với nước ấm bỏ vào ống tre, chặt một cành cây tươi, đặt ống tiết và cành cây tươi tại trung tâm làng rồi một người cầm cành cây tươi đó, một người tưới tiết heo từ trong ống chảy xuống cành cây đó, ông chủ làng cúng giải uế, ba người kéo vật này từ trong làng ra ngoài ngõ. Các dòng họ cũng phải làm lễ giải uế, trưởng họ cho triệu tập mọi người trong họ từ 15 tuổi trở lên kể cả cụ già tập trung tại nhà trưởng họ đễ làm lễ. Một con heo dưới đất được buộc vào cột hiên nhà trưởng họ rồi lấy 3 sợi dây thiêng buộc vào chân heo sắp cúng (3 sợi dây là biểu hiện cho 3 đối tượng cần giải uế: 01 sợi dành cho những người đã có gia đình; 01 sợi dành cho những trai, gái chưa có gia đình và 01 sợi dành cho những người vắng mặt tại thời điểm đó), tất cả mọi người có mặt phải cầm vào sợi dây thiêng theo từng đối tượng quy định trên. Đối với người vắng mặt có thể lấy khăn hoặc áo của người đó vắt vào dây thiêng là được.

A riêu piing được xem như một dịp để thể hiện tình đoàn kết và tính cố kết cộng đồng là bởi thành phần khách mời và những hoạt động có liên quan đến những người này, đây là một thủ tục bắt buộc phải có trong lễ hội A riêu piing. Thông thường khi diễn ra lễ hội A riêu piing thì làng tổ chức sẽ mời các làng huyết thống, làng kế cận, láng giềng là những làng đỡ đầu đến tham dự với tư cách khách mời chính thức. Khi đã quyết định mời làng nào thì già làng sẽ cùng với trưởng của các dòng họ mang theo một chai rượu và một ít thức ăn (thường là cá nướng được bỏ vào trong ống tre) đi sang các làng đó gặp và trao đổi trực tiếp với già làng bên kia về thời gian tổ chức và những công việc cần sự giúp đỡ. Nếu nhận lời thì toàn bộ dân làng được mời sẽ cùng tham gia vào công tác chuẩn bị cho lễ A riêu piing. Những người khách được mời này đến dự với ý nghĩa là người chứng kiến cũng như tăng cường củng cố khối đoàn kết giữa các làng với nhau. Những vị khách mời này có vai trò vô cùng quan trọng trong lễ A riêu piing bởi nếu không có họ thì không thể tổ chức được một lễ A riêu piing theo đúng nghi thức truyền thống của người Tà Ôi. Đây cũng là một cách thể hiện tính cảm, thắt chặt tình đoàn kết của các bản làng người Tà Ôi. Trong cuộc sống hàng ngày người ta ít có dịp bày tỏ tình thân hữu giữa các bản/làng với nhau, đây là dịp để mời nhau một cách chính thống, đồng thời cũng là nhấn mạnh quan hệ kết nghĩa của hai làng. Nếu khi xảy ra một sự cố nào đó của làng mình với một làng thứ ba nào đó, thì làng kết nghĩa này sẽ đứng ra ủng hộ và giúp đỡ. Trong quá trình tổ chức lễ hội A riêu piing thì những người khách đặc biệt này sẽ cùng chung tay giúp đỡ từ việc dựng lều trại cho đến xây dựng nhà mồ, bốc mộ, chuẩn bị các công việc… như những người anh em thân thiết của các dòng họ. Tất cả những lễ vật như trâu, bò, dê, heo, rượu cần… được dân làng chuẩn bị cũng là để dành cho các vị khách mời này. A riêu piing chỉ thực sự bắt đầu khi làng bạn đến tham dự và đánh dấu bằng việc bắt được con gà mái treo trên cây nêu dựng giữa làng. Nghi lễ đâm trâu cũng do những thanh niên trai tráng làng bạn thực hiện, làng tổ chức chỉ đứng nhảy múa xung quanh mà thôi. Người Tà Ôi đã thể hiện sự thông minh khi dùng một nghi lễ tâm linh để ràng buộc một mối quan hệ trong đời sống. Rõ ràng khi bàn đến lĩnh vực tâm linh, đặc biệt là đối với những dân tộc thiểu số như là một điều gì đó bất khả xâm phạm và con người dường như hoàn toàn tin tưởng và sợ hãi thế lực vô hình nhưng luôn tồn tại trong tâm thức của mỗi người dân. Những vị khách mời này vừa mang ý nghĩa là người chứng kiến tấm lòng thành kính của dân làng dâng lên thần linh, tổ tiên nhưng đồng thời ẩn đằng sau nó cũng chính là nhờ thần linh chứng giám cho mối thâm tình kết nghĩa của hai làng. Đây là một cách củng cố và lần nữa thắt chặt tình đoàn kết bằng mối ràng buộc tâm linh.

Trong lễ hội A riêu piing còn có một thành phần khách mời nữa mà luôn luôn được nhắc đến là những người chị, người em đi lấy chồng xa trong dịp này đều được mời về cùng với toàn bộ gia đình bên nhà chồng. Khi trở về họ được đón tiếp như những vị khách quý, lưu lại nhà của bố mẹ mình trong suốt thời gian lễ hội diễn ra. Về dự lễ hội A riêu piing các chị em mang theo chiêng, ché, thanh la, một ít tiền và khoảng vài chục cái bát ăn cơm làm lễ vật. Khi quay lại nhà chồng các chị sẽ được cho khoảng 3 bộ váy trở lên, 1 con gà và rượu cần, cái chiếu. Tất cả những lễ vật này đều tượng trưng cho sự trao đổi tình cảm qua lại giữa hai bên gia đình. Trong cuộc sống hàng ngày bận rộn với những công việc nương rẫy, chăm sóc gia đình thì các nhà thông gia cũng ít có dịp gặp gỡ đầy đủ anh em bà con nhà chồng của các chị, em vì thế  dịp lễ A riêu piing cũng là một lần nữa thắt chặt tình cảm gia đình đồng thời sâu xa hơn nữa là củng cố tình đoàn kết cộng đồng bằng các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống giữa làng mình và các làng bản khác.

Làm nhà đàm phán (Ân đoong): cộng đồng làng sẽ dựng một ngôi nhà sàn nằm ở trung tâm sân làng dùng để làm nhà đàm phán của hội đồng già làng, cả làng đỡ đầu, làng chủ và làng khách được mời chịu trách nhiệm trong suốt lễ hội Ariêu piing diễn ra. Ngoài ra, từng dòng họ khác sẽ làm nhà xung quanh, nấu ăn riêng, nhưng trong đó phải có mâm cơm góp mời khách quý hằng ngày.

Chuẩn bị tiểu quan tài (Apốq), xây lăng (Piing) và làm nhà mồ (Ân trap): Trước khi làm tiểu quan tài từng dòng họ dâng lễ vật gồm 01 con gà, xôi, rượu để trình báo lên tổ tiên, thần núi, thần thổ địa. Sau đó phân công người lên rừng chặt cây về đóng các tiểu quan tài dùng để bốc di cốt của người quá cố về làng làm lễ, mỗi dòng họ có bao nhiêu ngôi mộ cần bốc thì đóng bấy nhiêu quan tài tương xứng theo thứ cấp, già, trẻ. Các tiểu quan tài được làm từ những đoạn gỗ tròn bổ làm đôi, khoét mặt trong như hai thuyền úp vào nhau. Nhiều ngôi mộ vì lâu năm, gia đình không còn nhớ địa điểm chôn cất người đã chết hoặc mất thông tin thì chỉ cần làm bằng ống tre hai đầu để hai mắt rồi bổ đôi và úp lại làm hộp. Hình thức tiểu quan tài khá đơn giản, không có chạm khắc cầu kỳ với kích thước nhỏ vừa đủ sắp hài cốt của người quá cố.

Sau khi chuẩn bị đủ số quan tài, cộng đồng làng tiến hành xây lăng (Ta nôh piing). Việc xây lăng do các làng đỡ đầu đ­ược mời thực hiện. Trước khi triển khai công việc chủ làng phải làm lễ cúng một con heo để xin thổ địa cho phép cộng đồng làng xây lăng và giao cho hội đồng làng đỡ đầu bộ trống (Akưưr), thanh la (Tâlle), các dụng cụ, vật liệu làm lăng để làng đỡ đầu bắt tay làm việc. Hội đồng làng đỡ đầu phân công trách nhiệm cho từng tốp thành viên đảm nhiệm từng ngôi lăng của từng dòng họ. Cồng, chiêng được gióng lên trong suốt thời gian làm lăng cho đến khi xong mới thôi. Sau khi hoàn thành, chủ làng làm lễ khánh thành lăng (Pa chen piing) bằng một con heo.

Lăng (Piing) thường được đặt nơi rộng rãi, ở gần các con suối. Với quan niệm là gần suối có nước chảy quanh năm, những người đã khuất sẽ được mát mẻ, thuận lợi trong việc làm ăn ở thế giới bên kia. Lăng là nơi đặt hài cốt tập thể, không phân biệt gái trai, miễn là đều qua đời vì ốm đau bệnh tật. Lăng của người Tà Ôi được chia làm 2 loại, một loại dành cho người chết tốt và một loại dành cho người chết xấu. Lăng dành cho người chết xấu được xây dựng phía sau của lăng dành cho những người chết tốt, về hình thức cũng tương tự nhưng phải có mái che riêng để phân biệt. Bởi vì người Tà Ôi quan niệm rằng những người chết do tai nạn đột tử… là những người có cái chết không bình thường, phần lớn là liên quan đến ma quỷ và những thế lực thần linh xấu do đó phải để riêng không được nằm chung với những người chết bình thường sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những người đang sống. Trong một làng/bản, có bao nhiêu dòng họ thì sẽ có bấy nhiêu lăng tương ứng được dựng lên. Lăng thường được làm bằng các vật liệu tự nhiên sẵn có. Kiến trúc kiểu nhà sàn, dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật tùy theo. Gồm 4 cột gỗ dài khoảng chừng 80 - 100cm. Hai cột trước được dựng cao hơn hai cột sau từ 10 - 20cm, xung quanh che chắn bằng ván hoặc tre. Mái lợp bằng tre theo cách thức chẻ đôi các ống tre có kích thước lớn ghép sấp ngữa lại với nhau theo kiểu âm dương. Trên hệ thống cột và ván phên che chắn thể hiện các mảng trang trí liên quan đến dòng họ, vật tổ, hoa văn kỷ hà, hình người, chim muông, thú rừng, đầu trâu, rắn... được vẽ bằng than củi trộn nhựa cây hoặc những mảng đục chạm điêu khắc thô ráp. Thông thường, ngay phía trước nhà mồ, người ta còn tạc hai bức tượng bằng gỗ (1 nam, 1 nữ) khỏa thân dựng lên ở tư thế đứng thẳng hoặc bó gối. Cũng có khi chỉ tập trung thể hiện phần đầu và khuôn mặt. Có trường hợp, hình người này được chạm khắc trực tiếp ngay trên hai cột trước cửa nhà mồ. Nhìn chung, tuy quy mô xây dựng và nghệ thuật tạo tác không bằng lăng của một số tộc người khác như Cơ tu, Ba na. Tuy nhiên, trên một phương diện nào đó, nhà mồ của người Tà Ôi cũng là một công trình khá độc đáo mang đậm chất Môn - Khơme. Phần nào cho thấy khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng của người Tà Ôi, thể hiện nổi đau, khát vọng về sự hồi sinh từ cõi chết, ước nguyện vĩnh hằng của con người trước thiên nhiên và vũ trụ.

Làm nhà mồ (Ân trap). Nhà mồ được dựng ở rìa của làng với mô thức nhà trệt không vách, gồm bốn hàng cột ngăn thành từng lô, mỗi họ được phân một lô để đặt tiểu quan tài. Hàng cột bên ngoài có làm hàng ghế ngồi bằng tre dành cho người phục vụ âm công. Nhà này dành cho người chết do già yếu, ốm đau. Bên cạnh đó còn có một ngôi nhà mồ nhỏ mái tròn hình chiếc nón dành riêng cho những người chết oan, chết đuối, tai nạn, tự sát...

Trong quá trình tổ chức lê hội A riêu piing một nghi thức không thể thiếu là tiếp đón nhà cậu đến phụ giúp gia đình chủ lễ trong việc bếp núc. Đây là việc rất quan trọng và phải thận trọng. Đối với những gia đình kể cả đời bố mẹ, đời chú thím, đời anh chị cũng như đời mình mà chưa hoàn tất các thủ tục tập quán trong quan hệ hôn nhân, quan hệ nội ngoại thì hai bên trao đổi thật kỷ mà giải quyết dứt điểm. Lễ vật nhà chủ lễ phải sắm tuỳ theo mức độ vi phạm của hai bên, cao nhất là con trâu đực to, nhỏ nhất cũng phải con heo và các hiện vật khác như: thanh la (Tâlle), Koong, hạt mã nảo, nồi đồng, mâm đồng, vòng tay bằng bạc, dây chuyền bằng bạc,... Và bên nhà cậu cũng phải đáp lễ tương xứng với đồ lễ vật mà nhà chủ lễ đã hiến nộp như: Rượu, gà, áo, quần, vải Zèng (ân nai) thật công bằng.

Nếu bình thường, mà đến giúp việc cho gia đình chủ lễ khi có lễ hội A riêu piing thì mỗi gia đình bên cậu chỉ mang theo 10kg gạo nếp, 15-20 chai rượu nấu, 15 - 20 con gà, 01-02 bộ váy truyền thống khi đến phụ bếp cho gia đình chủ nhà. Và phía chủ nhà chuẩn bị đón nhà cậu bằng lễ vật: Thanh la, Tâlle, Coong, tiền mặt, nồi đồng, mâm đồng số lượng tùy theo khả năng của mình.

Khi làm lễ, tất cả đồ mang theo của nhà cậu và đồ hiến tặng của nhà trai nói trên đều được đặt nơi trang trọng nhất trong gia đình, rồi đại diện gia đình nhà cậu và đại diện gia đình nhà trai ngồi đối diện nhau trình báo tổ tiên của cả hai bên.

Dựng cây nêu: Cả làng làm một cây nêu to dựng ở chính giữa khoảng đất làm lễ, còn mỗi dòng họ lại làm thêm một cây nhỏ hơn dựng xung quanh. Cây nêu đòi hỏi phải có thân thẳng, gỗ đẹp tròn; bên cạnh đó chọn làm sao cho được những cây tre dẻo dai, sau đó đem chẻ nhỏ, vót mịn để làm những chùm tua buộc lên cây nêu. Trên cây nêu được treo một con gà mái dùng để làm lễ vật cho các khách mời là các làng khác đến tham dự. Những người khách mời này khi đến tham dự phải dùng mọi cách nhảy lên bắt được con gà kéo xuống, lúc này lễ hội mới thực sự bắt đầu. Cây nêu chính của làng được buộc một con trâu to, còn những cây nêu của các dòng họ sẽ buộc một con dê hoặc bò, tất cả số động vật này sẽ được giết mổ để thiết đãi khách trong những ngày diễn ra lễ hội.

Lễ hội A riêu piing được tổ chức vào những ngày giữa tháng 7 âm lịch vì lúc đó là mùa khô, ít có mưa, trăng tròn, tại khu đất giữa làng - nơi được chọn để làm các nghi lễ cúng tế hàng năm của cộng đồng làng/bản.

Lễ hội A riêu piing chính thức được diễn ra theo trình tự sau 

Nghi lễ bốc mộ: Ngày đầu tiên toàn thể dân làng dưới sự chủ trì của già làng sẽ tiến hành đi vào rừng bốc mộ. Đối với các thi hài người chết trong niên hạn, mộ nằm ở vị trí thuận tiện cho việc khai quật, người có chức, có quyền, người giàu có thì được bốc xác nguyên vẹn (lôc kook); Những ngôi mộ nằm ở xa vì không kịp thời gian hay những ngôi mộ bị thất lạc thì gia chủ chỉ trải mảnh chiếu được cắt nhỏ bằng khổ giấy A4 rồi gọi linh hồn của từng tên người đã chết, thình lình bất cứ con côn trùng gì bò vào là gói lại đem về. Vì họ cho rằng linh hồn của chết đã hiển về; Đối với mồ mã đã được phong thần, đã làm lễ Ariêu piing trước đây rồi hoặc là những người tích, mất thông tin. Hình thức này không cần bốc cốt hoặc gói linh hồn bằng côn trùng mà chỉ cần gọi hồn (Pa xôl arvai cu múiq) là được. Trong quá trình bốc mộ các loại nhạc cụ như chiêng, trống, thanh la, tù và được đánh lên liên tục suốt hai ngày và không được ngừng nghỉ bởi họ cho rằng đây là những giai điệu cúng cho người đã khuất biết đường để về với làng.

Khi hoàn tất việc bốc mộ sẽ tiến hành nghi lễ vào ngõ: Trước khi lam lễ vào ngõ phải làm lễ giải uế, xá tội cho một số người đã chết, mà lúc đang sống đã phạm tội (lêh pâr rôih). Lễ vật đơn giản chỉ cần 01 bát nước trong, 01 bát cơm, 01 cóc rượu, trầu cau, 01 miếng thịt heo. Nếu gia đình kha khá thì làm một con gà cho lễ giải uế (ăr raq) và một con heo cho lễ xá tội (Băng hat).

Tiếp đến là nghi thức bầu thủ lĩnh cho người cõi âm trong dòng họ và cộng đồng làng: Trưởng họ chọn mộ của người lớn tuổi nhất mà chết trước để bầu làm thủ lĩnh trong họ, lễ vật hoàn toàn làm giã như: Tiền, gạo, áo, cơm, cây trồng, vật nuôi liệm theo. Và lễ bầu thủ lĩnh người cõi âm trong  làng cũng tương tự như bầu thủ lĩnh dòng họ nhưng do chủ làng đảm nhiệm.

Sau đó cộng đồng làng làm lễ đưa hài cốt vào nhà mồ, theo thứ tự thủ lĩnh được bầu và người chết trước vào trước, sắp xếp hàng dọc theo từng họ đã được ấn định. Khi đưa đầy đủ số hài cốt về nhà mồ, các dòng họ chuẩn bị lễ cúng bao gồm: cơm, 1 cái trứng, 1 con gà, thuốc lá, rượu, ống điếu để cúng ma. Nội dung của bài cúng nhằm báo cáo với các hồn ma về việc làng tổ chức lễ hội A riêu piing để cầu mong phù hộ tránh tai ương, bệnh tật, được sống hạnh phúc…Tại nhà mồ, đại biểu làng (Ariehs veel) có trách nhiệm phân công các thành phần tham gia âm công (Xi xiáq) - đánh cồng chiêng viếng nơi nhà mồ, ngày và đêm đầu tiên giao cho các nhà cậu (Cu Pơ), ngày và đêm thứ hai chủ làng và đại biểu, cuối cùng giao nhà Khơi (nhà trai) cho đến khi chuẩn bị làm lễ tiễn đưa quan tài về lăng mới.

Lễ hiến sinh: Ngay sau khi hài cốt đã được đưa vào nhà mồ, thì các vật hiến tế tùy theo khả năng của tất cả các gia đình, các dòng họ cũng như của làng ai nấy đều phải được đem ra giữa sân cột vào cây nêu của mình (Ta nưưng Nok taarr toong). Đại diện khách, chủ, nội, ngoại có liên quan trình bày các giàng mà mình hiến tế (tiếng Tà Ôi gọi là Thâu). Tùy theo thứ cấp hiến sinh và mức độ vi phạm sẽ có con vật hiến tế tương xứng. Các thứ cấp mà hiến tế bằng con trâu là cúng cho tổ tiên (Giang Đung), cúng thần núi (Giang côh), thần thổ địa (Xưq Ka Niéq), cúng thần linh (Tăng kin), cúng thần bổn mạng (Giang cơt), cúng thần tài (A Tan/Cu Păk). Còn đối với con bò có thể hiến tế cho các thần: Thần lúa (A káq A Bôn) là tốt nhất, cúng thần tài (A Tan/Cu Păk), cúng thần bổn mạng (Giang cơt). Đặc biệt con trâu ít ai cúng cho thần lúa. Các loại cúng bằng con dê: Cúng giải uế, cúng trừ tà, nhưng đối với con dê có thể thay mạng trâu được mà không được thay mạng bò. Đối với con heo có thể cúng được cho tất cả các thần nhưng ở cấp độ nhỏ hơn.

Sáng ngày hôm sau cộng đồng làng tiến hành đón khách quý, đại biểu làng (Amôt vel) và Ra jooc đến thặm dự A riêu piing. Đây là ngày trung tâm của lễ hội A riêu piing, là ngày trọng đại linh thiêng nhất, các Giàng và cả thế giới âm - dương đều được mời về chứng kiến lễ hội Ariêu piing. Khách mời của làng (Đại biểu các làng được mời) là người đứng đầu đàm phán tại nhà Ân Đoong, giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, xử lý các vi phạm xảy ra trong lễ hội Ariêu piing, khách mời của làng có quyền đâm trâu hiến sinh của chủ làng.

Hội đồng già làng chủ lễ cầm 01 tấm chiếu, 01 chai rượu đem ra cổng làng ngồi để đón khách, khi khách đến mời ngồi vào chiếu đã trải sẵn, cả chủ lẫn khách trao đổi các vấn đề liên quan đến phong tục tập quán trước khi vào làng, đồng thời bên khách báo cáo về quân số đến tham dự lễ A riêu piing, bên chủ làng cũng báo cáo luôn những gì đã có trong giao ước với các làng được mời trước khi lễ hộ A riêu piing được tiến hành, đó là: Một con trâu Ta nôh piing, một con trâu hiến tế thổ địa, 01 chum rượu cần, bộ cồng chiêng và giao trách nhiệm cho đại biểu quản lý về mọi mặt trật tự an ninh, đứng ra giải quyết các sự việc xảy ra trong quá trình lễ hội diễn ra.

Tại trung tâm sân làng có một rừng cây nêu cùng với con vật hiến sinh của các dòng họ. Trong đó có một cây nêu cái (cây nêu tổng) to và cao hơn mọi cây nêu khác, ở mũi tua nêu có treo một con gà trống màu đỏ còn sống (ngtruôi tar roaih) ý là mọi việc đều chín muồi, khi khách vào làng thì làng khách có quyền bắt con gà đó và tuỳ thích sử dụng. Cây nêu tổng được cột con trâu Tanôh piing, con trâu này hiến tế cho tổ tiên, giao cho làng có công dựng lăng và vẽ lăng có trách nhiệm đâm và làm thịt cho làng chủ cúng, sau khi cúng xong lại giao cho khách làng quyền sử dụng tiếp khách.

Khách làng đã trang bị sẵn các nhạc cụ như: khên, khèn ti riil, tà ngạc, tà và (tăng coi)... để hoà âm cùng với cồng chiêng một cách nhịp nhàng không ngớt từ ngoài ngõ vào trong làng và đến nhà đàm phán (ân đoong).

Lễ xông nhà đàm phán (Kloc Ân đoong ): Ngay sau khi khách đã vào làng và con gà trên mũi tua của cây nêu tổng đã được bắt. Hội đồng già làng bên chủ lễ xuất hiện giữa đám đông cùng nhún nhảy, tay chỉ về nhà Ân đoong, ý mời các vị khách đến xông nhà ân đoong. Ngay trước cửa nhà ân đoong có hai người đàn ông đang chờ sẵn, một người cầm đuốc đã thắp đỏ, người kia cầm ống tre có đựng bột nhựa trám khô đưa cho khách để vừa nhảy múa vừa vung vào đuốc làm cho ngọn lửa tạo ra những tia chớp và đi khắp bốn hướng bắc - nam - đông - tây của nhà ân đông.

Nghi lễ xông nhà ân đoong với mục đích xua đuổi tà ma và theo quan niệm, của người Tà Ôi, chỉ khách đến dự lễ mới đuổi được tà ma, có như vậy lễ hội A riêu piing mới có kết quả tốt đẹp.

Lễ viếng nhà mồ: Các gia đình nội, ngoại và gia đình chủ lễ thăm viếng nhà mồ là trách nhiệm của người còn sống đối với người đã chết và phải thông qua gia chủ biết để đáp lễ tại nhà mồ, nếu đồng loạt đi thăm cùng một lúc thì gia chủ đáp lễ một lần, nhưng nếu người thăm viếng đi lẽ từng người thì bắt buộc gia chủ phải đáp lễ theo từng người.

Lễ đâm trâu: trước khi tiến hành đâm trâu, phải tiến hành nghi thức vuốt mũi vật hiến tế (Beh môh): Mâm lế gồm: một củ kiệu, một cây dao, một tấm vải Jèng, một bát nước, một bát xôi đầy, hai miếng trầu cau bỏ vào mâm đan bằng tre (A điền), đặt ngay cạnh vật hiến tế. Sau lời khấn, chủ lễ đứng dậy ném củ kiệu vào mũi con vật hiến và dùng cây dao đâm giả vào con vật, sau đó mới giao cho người khỏe đã được phân công đâm thật. Khi con vật hiến tế ngã xuống tất cả mọi người cùng hô vang ơ...êu...ơ...êu hai lần, các vị lớn tuổi đến xem thế con vật ngã để đánh giá điềm lành hay ác. Quan niệm của người Tà Ôi cho rằng, con vật hiến sinh khi đâm chết, nếu vết đâm bị che lấp, mắt ngửa lên cây nêu (ti loi cóq), đầu quay hướng mặt trời lặn (pân đaang plôt) hay đầu quay về thượng nguồn (răh ta rok avaal đaq), quay lưng về phía cây nêu (chưng krong) là điềm xấu; nếu vết đâm được phơi ra (tiêng păng ha), bụng ôm cây nêu (ka pô nok), đầu hướng về phía mặt trời mọc (pân đaang xâr) hay về hạ lưu (Chô píaq đaq) là điềm tốt.

Già làng khách mời sẽ cắt lấy buồng gan, cặp sừng và xương hàm giao lại cho Già làng chue lễ để làm lễ cúng. Cặp sừng và xương hàm được đặt lên phần quan tài của dòng họ Già làng, còn gan được chia thành các phần đều nhau, mỗi dòng họ một phần xâu lên một thanh tre bắc ngang bếp than nướng. Đây là lễ vật dành cho các linh hồn. Sở dĩ miếng gan trong mỗi con vật được người Tà Ôi xem trọng nhất, để dành cho các linh hồn là bởi vì theo họ gan là tượng trưng cho tâm tư, tình cảm, tấm lòng của người đang sống gửi đến những người đã khuất, cầu mong được phù hộ độ trì cho làng/bản yên bình, mùa màng tươi tốt, nhà nhà, người người có sức khỏe, siêng làm, đủ cái ăn cái mặc. Đồng thời thông qua bài văn khấn của các trưởng họ cũng mong muốn mời các linh hồn người chết ở lại chơi với dân làng cho hết ngày lễ hội, chỉ đến khi nào ăn được miếng gan trâu (tức là tiễn đưa người chết ra nhà lăng/piing) xong mới trở về với thế giới cõi âm. Những lễ vật cúng này sẽ được để nguyên trên các quan tài của các dòng họ và toàn bộ sẽ được đưa theo đoàn rước đi ra nhà mồ vào ngày hôm sau.

Buổi tối ngoài các hoạt động vui chơi giải trí của dân làng và những vị khách mời thì còn có các vị khách không mời đến góp vui.  Ngoài hai thành phần khách mời chính là các làng kết nghĩa và chị em gái đã lấy chồng, trong lễ A riêu piing còn có những vị khách không mời gọi là Ra jooc, đây chủ yếu là những thanh niên ở các bản xa, khi nghe tin làng này có tổ chức lễ A riêu piing thì họ đến chơi, xin ăn uống. Ban ngày họ ca hát, nhảy múa tham gia vào các hoạt động lễ hội thì khi đêm xuống thường là vào khoảng nửa đêm, họ lập thành đoàn Ra giooc đi đến từng nhà xin thức ăn. Các gia đình vui vẻ đem rượu, thịt tiếp đãi đoàn. Mặc dù là khách không mời, nhưng khi các Ra jooc này đến vẫn được người dân chào đón và ban cho thức ăn. Điều này cũng có lý lẽ riêng của nó bởi người Tà Ôi tâm niệm đây là một thành phần không thể thiếu khi diễn ra lễ hội A riêu piing. Cũng là một cách để tăng cường tình đoàn kết tránh xảy ra xung đột, bảo đảm cho lễ hội A riêu piing diễn ra suôn sẻ và sau này sẽ đảm bảo cuộc sống yên bình của người dân. Lễ hội cứ tiếp diễn tưng bừng như thế trong suốt ngày hôm sau. Đến sáng ngày cuối cùng, toàn bộ dân làng và các làng bạn sẽ tiến hành đưa quan tài của các dòng họ ra nhà lăng/piingđã được chuẩn bị sẵn.

Toàn bộ các quan tài được sắp xếp theo thứ tự từ dòng họ đầu tiên là dòng họ của Già làng, sau đó lần lượt là các dòng họ sắp theo thứ tự có nguồn gốc lâu đời cho đến sớm nhất ở làng. Trong khi đoàn rước quan tài đến nhà mồ thì dân làng khách mời tiếp tục sử dụng các nhạc cụ chiêng, trống, thanh la, tù và… đánh liên hồi như một điệu đưa linh cuối cùng dành cho các linh hồn về yên nghỉ ở thế giới bên kia.

Kết thúc lễ đưa quan ra nhà mồ, toàn bộ dân làng và khách mời lại quay trở về làng. Lúc này trước khi kết thúc lễ hội, những vị khách mời tiếp tục mang những chiếc gùi đan bằng tre đến từng nhà trong làng nhảy múa và nhận các lễ vật của các gia đình. Sau đó tất cả dân làng lại tập trung về sân làng ăn uống, ca hát nhảy múa cho đến khi hết toàn bộ thức ăn, rượu thịt. Lúc này mới chính thức kết thúc lễ A riêu piing.

Lễ hội A riêu piing hoàn thành, thế nhưng nếu không làm lễ cấu kết là xem như bị cắt đứt mối tương phùng giữa đời sống sinh mệnh con người đối với các thần liên quan xung quanh ta. Cho nên trong mỗi lễ hội A riêu piing đều phải dự trữ một con heo đực tơ hoặc heo cái to nhỏ cũng được nhưng chưa đẻ con là tốt để làm lễ. Lễ cúng giữa làng ngay sau khi trong làng không còn một vị khách nào, từng nhà đến tập trung tại nơi cúng, khi ông chủ làng đọc câu văn khấn là cùng lúc mọi người đều đọc lời ước nguyện cho mình, cho dòng họ và cả làng. Sấu lễ cúng thì chia thịt và tổ chức ăn uống, đến đây lễ hội Ariêu piing kết thức hoàn thiện.

Trong quá trình diễn ra lễ hội A riêu piing từ lúc chuẩn bị cho đến khi kết thúc toàn bộ dân làng cần phải tuân thủ những kiêng kỵ hết sức khắt khe như: Kiêng quan hệ vợ chồng, nam nữ trong suốt thời gian từ khi được già làng thông báo chuẩn bị làm lễ cho đến khi kết thúc hoàn toàn lễ hội. Điều này áp dụng cho cả người làng và cả những người lạ bước vào địa phận của làng. Nếu bất kỳ ai vi phạm thì đều bị phạt rất nặng, có thể là sẽ phải tự chịu toàn bộ những lễ vật dùng để tiến hành lễ hội A riêu piing.

Ngoài ra trong quá trình tiến hành lễ hội A riêu piing thì mọi người dân trong làng đều phải ngừng tất cả những công việc riêng của mình lại, ví dụ như có nhà nào đang làm nhà dở thì cũng phải tạm ngưng lại để phục vụ cho lễ hội A riêu piing xong mới được tiếp tục. Trong trường hợp làng có người chết, nếu là chết xấu thì đưa ngay thi thể ra khỏi địa phận của làng, còn nếu trường hợp chết tốt thì vẫn tạm thời dùng mọi biện pháp để bảo quản xác chết trong làng, sau khi tiến hành xong lễ A riêu piing thì mới làm các thủ tục tang ma cho người đã khuất. 

Ngoài A riêu piing người Tà Ôi còn có nhiều lễ hội khác như A riêu A da, Puh boh… nhưng đối với người Tà Ôi, A riêu piing còn hơn cả một lễ hội bởi đây là dịp gắn kêt mọi người, giữa các dòng họ, giữa các làng, tình nghĩa giữa những người đang sống và sự tri ân với những người đi trước. Ân tình ấy có cội nguồn từ truyền thống dân tộc và là cội rễ của một cuộc sống thanh bình, yên vui và bền vững./.

XEM THÊM VỀ NHỮNG DI SẢN THUỘC LOẠI HÌNH LỄ HỘI
LỄ CẦU MÙA CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ PA CÔ Ở QUẢNG TRỊ LỄ BỎ MẢ VÀ TƯỢNG NHÀ MỒ CỦA NGƯỜI TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ VAI TRÒ CỦA CÁC NGHI LỄ NÔNG NGHIỆP TRONG ĐỜI SỐNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀÔI/PA CÔ Ở MIỀN TÂY QUẢNG TRỊ LỄ MỪNG CƠM MỚI (A DA ) - NGÀY TẾT TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PA CÔ Ở QUẢNG TRỊ HỘI LÀNG NGÀY XUÂN NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CAO ĐẸP HỘI CƯỚP CÙ LÀNG CẨM PHỔ XÃ GIO MỸ, HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ