CHUYÊN MỤC KHÁC
NHÀ Ở DÂN GIAN CỔ TRUYỀN QUẢNG TRỊ (DẪN LIỆU TỪ VÙNG ĐÔNG HÀ)

Cập nhật ngày: 10/6/2022 7:31:37 PM

Vùng đất Quảng Trị là địa bàn cư trú của một bộ phận cư dân Việt từ phía Bắc vào định cư và lập nghiệp từ sau thế kỷ XIV. Nhà ở của người dân Quảng Trị mang những nét chung của mô thức nhà ở truyền thống người Việt. Trải qua thời gian và tùy thuộc vào tình hình kinh tế mà các kiểu thức nhà ở được thay đổi và phát triển cả về kiểu dáng, quy mô lẫn kết cấu, vật liệu... Đông Hà là nơi hội lưu và bảo tồn được nhiều dấu ấn về văn hóa vật thể dân gian truyền thống, trong đó có kiến trúc nhà ở dân gian. Trước khi trở thành trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị thì các lác làng cổ vùng này còn lưu giữ khá căn bản và gần như đầy đủ các kiểu thức nhà ở dân gian vùng Quảng Trị. Nhiều năm lại đây, khi tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã làm cho nhiều loại hình nhà ở dân gian biến mất, nhưng thay vào đó là việc rất nhiều gia đình đi theo xu hướng phục dựng lại các công trình nhà ở dân gian vào mục đích tạo lập không gian sống hoặc kinh doanh theo phong cách truyền thống. Vì thế, nghiên cứu về nhà ở dân gian Đông Hà có thể hiểu được cái chung nhất của kiến trúc, cách ở cổ truyền của người Việt vùng Quảng Trị xưa. 

Nếp nhà tranh cổ truyền của người Việt Quảng Trị xưa (Ảnh Yến Thọ)

 

Nhìn tổng quát theo chiều lịch đại, nhà ở dân gian vùng Ðông Hà từ xưa tới nay có 3 loại hình với 3 kiểu thức chính: Nhà Rội - Nhà Rường và Nhà Xông (nhà Bằng Ðầu). Ngoại trừ kiểu thức gọi là nhà Rường vơ - một kiểu thức biến thể của nhà Rường vùng Vĩnh Linh thì tuyệt nhiên không có mặt ở khu vực này.

Nhà Rội và nhà Rường là hai kiểu thức truyền thống cơ bản, có quá trình lịch sử hình thành sớm và phổ biến trong các làng xã nhiều thời kỳ trước đây. Nhà Xông (nhà Bằng đầu) là kiểu thức hình thành muộn và hiện còn được người dân sử dụng và tiếp tục được xây dựng ở các khu vực chưa bị đô thị hoá.

Trước khi bị chiến tranh tàn phá (từ những thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX), Khắp nơi trong các khu vực quần cư làng xóm của vùng Ðông Hà, ở đâu cũng thấp thoáng những mái nhà ẩn hiện dưới những vòm cây. Dù là nhà tranh hay nhà ngói, quy mô lớn hay nhỏ, rộng hay hẹp thì những nếp nhà của những người dân thường bao giờ cũng là những hình ảnh quen thuộc, thân thương, nối với nhau trên những mảnh vườn để tạo nên cái khung cảnh hữu tình của làng xóm. Nhà của người bình dân nghèo thì dựng theo lối nhà Rội hoặc Trếng đà/ Rường đà (một loại nhà nửa Rường, nửa Rội); nhà của những người trung nông thì dựng theo lối nhà Rường với quy mô một gian, 2 chái; nhà của những phú nông giàu có thì dựng theo lối nhà Rường 3 gian, 2 chái hoặc kiểu nhà gồm hai nếp với phía trước nếp nhà chính có nối thêm nếp nhà “vồ cua”.

Qua thời gian, với sự tàn phá của thiên nhiên (mưa nắng, lũ lụt, gió bão, hoả hoạn...) nhất là qua các cuộc triến tranh ác liệt (bom đạn, ly tán...) nên nhiều nhà cửa của người dân Ðông Hà đã bị hư hại phần lớn. Không tính những ngôi nhà dựng theo thức nhà Rội thì những ngôi nhà Rường cổ có tuổi khởi dựng trên 300 năm đã hầu như không còn. Những ngôi nhà có vẻ như khá xưa thì đã qua nhiều lần tu bổ, sửa chữa; nhiều ngôi nhà tuy còn gần với dạng nguyên thuỷ ban đầu thì đã bị chuyển dời từ vị trí này sang vị trí khác. Ðặc biệt kiểu thức nhà Rội (có bộ khung bằng gỗ), kiểu nhà Rường 3 gian, hai chái và kiểu nhà hai nếp (có “vồ cua”) đã không còn nữa. Có thể khẳng định một điều chắc chắn là tất cả các ngôi nhà ở dân gian hiện còn đến nay trên toàn địa bàn thành phố đều có tuổi khởi dựng dưới 200 năm, nhiều nhất vẫn là từ 100 - dưới 150 năm (*). Những ngôi nhà có niên đại khởi dựng sớm nhưng đã thay đổi hoặc còn nguyên vẹn nhưng có niên đại muộn (**).

Những năm gần đây, nhiều gia đình khá giả ở thị xã Ðông Hà đã và đang có một trào lưu là dựng lại những nếp nhà Rường cổ để ở hoặc để kinh doanh như: quán cà phê, nhà hàng... Họ mua lại những nếp nhà cổ từ nhiều vùng khác đến rồi dựng lên trong khuôn viên vườn tược của mình (***).

Trong lịch sử kiến trúc nhà ở dân gian thì kiểu nhà Rội được coi là kiểu sơ khai, tiền đề cho các kiểu kiến trúc về sau, nhưng từ nhà Rội đến nhà Rường là cả một bước phát triển mới trên hành trình tiến đến sự hoàn thiện của thức kiến trúc nhà ở truyền thống của người dân Ðông Hà/Quảng Trị nói riêng và toàn khu vực miền Trung nói chung. Ðó là quá trình cải biến, thay đổi các yếu tố kiến trúc cổ sơ để phù hợp với điều kiện môi trường, hoàn cảnh kinh tế, xã hội trên vùng đất mới của các nhóm cư dân Việt ra đi từ đất Bắc; đồng thời tiếp thu các yếu tố kiến trúc nhà ở của cư dân tiền trú Champa để sáng tạo nên những sản phẩm văn hoá mới.

Các bước phát triển nội tại từ nhà Rội đến Nhà Rường có thể hình dung theo chiều hướng sau: Ðầu tiên là các kiểu thức nhà Rội rồi đến các kiểu nhà nửa Rường, nửa Rội (thượng Rường hạ Rội hoặc trước Rội sau Rường) và đỉnh cao là kiểu thức nhà Rường - một loại hình kiến trúc nhà ở mà các nhà nhiên cứu kiến trúc cổ của Việt Nam cho rằng là “đặc thù của vùng Trị - Thiên”. Dù là nhà Rội hay Rường thì chúng đều có chung một mô thức là bộ khung chịu lực bằng tre hay gỗ được kết cấu thành một hoặc nhiều gian và hai chái. Những gia đình giàu có, khá giả thì dựng nhà theo kiểu thức nhà Rường (từ một đến 2 nếp nhà chính và một nếp nhà phụ) còn những gia đình bình dân thì thường dựng nhà Rội hoặc nửa Rường nửa Rội (với một nếp nhà chính và một nếp nhà phụ). Mặt khác, trong từng khuôn viên của nhiều gia đình, kiểu thức nhà Rường thường được sử dụng làm ngôi nhà chính, còn nhà Rội thường được dùng làm ngôi nhà phụ (nhà bếp, chuồng trại).

Nhà Rội bình dân về cơ bản có cấu tạo của bộ khung chịu lực chủ yếu là bằng tre (gỗ rất ít). Bộ vài/vì (vài kèo/vì kèo) thường có các cột cái (cột mệ) và các cột con, trến/trếng băng, 2 tay kèo (đôi hoặc đơn). Kết cấu bộ vài đơn giản. Nhà Rội trong mỗi vài có 3 cột chôn xuống đất, cột giữa nhô cao lên tận đỉnh nóc tạo ra kiểu vài kèo chữ thập chống đỡ trực tiếp nóc mái, đảm bảo một kết cấu vững chắc trước bão tố. Các cấu kiện khác như đòn tay, rui, mè, trến.... đều làm từ tre, được liên kết bởi kỹ thuật lạt buộc (mây hoặc tre) và con xỏ. Tường là các phên tre hoặc phên trát đất dùng để che mưa, che nắng chứ không có tác dụng chịu lực.

Cấu trúc vài kèo trong khung gỗ nhà Rội (Ảnh Yến Thọ)

Nhà nửa Rường nửa Rội (kiểu nhà Rội trung lưu) với một bộ khung gỗ chịu lực phân bố 5 hàng cột và một hàng cột hiên (đều đặt trên đá tảng), được cấu trúc bởi một vài kèo gồm một cái cột cái (cột hàng nhất) dựng chính giữa. Hai tay kèo suốt (kèo thượng) được cấu tạo theo kiểu tay kèo đôi kéo từ đầu cột cái (tại điểm 2 tay kèo đôi ôm lấy hai phía của đầu cột cái và được chốt giữ bằng con xỏ/ tron ở đỉnh nóc) xuống hai cột quân tiền và hậu (cột hàng hai tiền và hậu) ốp vào hai phía của đầu cột (bằng kỹ thuật xẽ ngoàm và chốt giữ bằng con xỏ). Nối hai tay kèo suốt về hai phía với cột hàng nhất là một trến băng được cắt ra thành 2 đoạn, một đầu của cả hai đoạn trếng này khớp mộng vào cột hàng nhất còn hai đầu kia kẹp vào đôi kèo hàng nhất ở về hai phía (được chốt giữ bằng con xỏ). Trên trếng băng đội hai cột trốn nối với 2 tay kèo suốt chạy song song với cột hàng nhất. Ở mặt tiền, từ cột hàng hai kéo xuống cột hàng 3 là một tay kèo được tạo dáng như tay kèo cù của nhà Rường, đuôi tay kèo cù được kẹp vào giữa tay kèo suốt đôi và khớp mộng vào đầu cột hàng hai, còn ở mặt hậu, có một tay kèo hàng hai tạo dáng bình thường nối từ đầu cột hàng hai cho đến cột hàng ba cũng theo cách thức liên kết như kèo cù. Ở gian chái, tay kèo đấm và kèo quyết tiền là tay kèo suốt kéo từ đầu cột trốn tiền, hậu xuống khớp mộng vào đầu cột đấm, quyết. Riêng tay kèo đấm hậu được cấu tạo như tay kèo đấm thiệt ở nhà Rường (gồm có hai tay kèo đấm thượng và hạ với hai cột đấm hàng nhất và hàng hai); tay kèo đấm hạ tạo dáng như tay kèo cù. Các vài kèo được liên kết lại với nhau ngoài các bộ phận xà, đòn tay còn có 2 cái xuyên (trước và sau) nối 2 cột trốn này với hai cột trốn kia để tạo ra rầm thượng.

Tuy nhiên, nhà Rội do nhiều nhược điểm như: không gian bị hạn chế, kỹ thuật, mỹ thuật ở trình độ thấp nên kém bền vững và chưa đẹp mắt. Vì thế, những kiểu nhà mới đã ra đời gọi là nhà “nửa Rường, nửa Rội”, “trước Rội, sau Rường”, hoặc “thượng Rường, hạ Rội”. Phổ biến nhất cho loại nhà kiểu này là nhà Trếng đà/Rường đà và kiểu nhà Rội khung gỗ. Các kiểu nhà này chính là gạch nối trong sự chuyển tiếp từ nhà Rội sang nhà Rường mà lưu ảnh của nó cho dù hiện nay còn lại rất ít (kiểu nhà Trếng đà) hoặc không còn (kiểu nhà Rội khung gỗ) trên vùng đất Ðông Hà nhưng còn có mặt ở các làng xã vùng đồng bằng Triệu Phong với cách gọi của dân gian là nhà Rội.

Cấu trúc vài kèo trong khung gỗ nhà Trếng đà (Ảnh Yến Thọ)

 

Nhà Rường là cách nói rút ngắn của từ rường cột, là kiến trúc nhà ở được tạo thành bởi hệ thống các con rường/tay kèo chồng lên nhau trong kết cấu mỗi vài kèo. Nhà Rường là một kiểu kiến trúc với một bộ khung chịu lực hoàn toàn được làm bằng gỗ. Số gian trong nhà được phân định bằng các hàng cột. Nhà Rường có mặt bằng cấu trúc hình chữ nhật hoặc hình vuông nhưng nguyên tắc là có một hoặc nhiều gian và hai chái. Nhà có mặt bằng hình chữ nhật là những ngôi nhà có 3 gian và 2 chái, nên còn gọi là “nhà ba căn”; nhà có mặt bằng hình vuông là những ngôi nhà có 1 gian và hai chái. Nhà có mặt bằng hình vuông còn gọi là “nhà vuông” hay “nhà bánh ít”. Kiểu “nhà vuông” (1 gian, 2 chái) là loại nhà thông dụng, phổ biến; còn loại “nhà ba căn” chỉ có ở những gia đình quan lại, địa chủ giàu có. Ngoài ra còn có một loại nhà nữa gọi là “nhà vồ cua”. Ðây là một loại nhà gồm 2 nếp nhà được ghép song ngang theo lối “chữ nhị”, nối với nhau bằng một máng xối thuần túy. Tức là gồm một ngôi nhà chính ở phía sau được cắt bớt bởi một hàng cột và một tay kèo (cột và kèo hàng 3), ghép với một ngôi nhà bố trí theo lối chỉ có 4 hàng cột ở phía trước. Loại nhà này rất ít vì nó tốn khá nhiều nguyên vật liệu và công sức cho nên ngày xưa chỉ những gia đình giàu có, quan lại mới làm.Bộ khung gỗ chịu lực (gọi là bộ giàn trò) của nhà Rường ở vùng Ðông Hà/Quảng Trị thường chỉ được cấu trúc theo hai kiểu: “vài chồng” và “vài luôn”. Kiểu “vài luôn” thường xuất hiện ở những ngôi nhà có thiết kế “rầm thượng” (gác lững chứa đồ đạc), còn kiểu “vài chồng” thường có mặt ở những ngôi nhà không có “rầm thượng”. Vài luôn là để chỉ một bộ vài kèo thường được tạo nên bởi một tay kèo suốt kéo dài từ đỉnh nóc (đòn đôông) chạy băng qua đầu cột hàng nhất xuống đến đầu cột hàng nhì. Ðồng thời, trong khung hình ngũ giác được tạo nên bởi trến, 2 tay kèo, 2 cột hàng nhất không có một bộ phận nào nữa. Ðây là đặc điểm để phân biệt với vài chồng, bộ vài mà ngoài những bộ phận chính đã nói trên thì trong khung hình ngũ giác còn có thêm nhiều chi tiết khác như: ấp quả, trụ tiêu, xà cò, con tôm.

Cấu trúc vài kèo trong khung gỗ nhà Rường (Ảnh Yến Thọ)

 

Về khái quát, bộ khung gỗ nhà Rường được tạo thành bởi sự liên kết của hệ thống các vài kèo lại với nhau. Mỗi vài kèo nhà Rường thường có từ 4 - 6 hàng cột, tối đa là 7 hàng cột. Các cột được đặt trên đá tảng. Vài 6 cột có 2 tay kèo chính ở phía trước và sau nối với nhau ở đỉnh nóc chạy xuống băng qua 2 đầu cột hàng nhất và khớp mộng vào 2 đầu cột hàng 2. Tay kèo kiểu này gọi là “kèo suốt” (có khi tay “kèo suốt” được nối tiếp nhau bởi 2 tay kèo gọi là “kèo thượng” (phía trên) và “kèo hạ” (phía dưới)). Nối với tay kèo suốt và khớp vào cột ngoài cùng (cột hàng ba) là một tay “kèo cù”. Nếu là nhà 7 hàng cột thì có một tay kèo ngắn gọi là kèo “hàng tư”/“hàng tổng” nối từ đuôi kèo cù phía trên xuống khớp mộng lên đầu cột hàng tư. Hai cột hàng nhất và hàng nhì được nối với nhau bằng một cái “trến”/“trếng”. Các vài kèo được liên kết với nhau bằng 2 cái “xuyên” (chạy băng qua dưới đầu 2 cột hàng nhất), các xà thượng, xà hạ (chạy băng qua trên đầu các hàng cột) cùng với hệ thống đòn tay, rui, mè. Ở phần gian chái có hai đôi tay kèo gọi là kèo đấm và kèo quyết nối từ cột hàng nhất tiền và hậu xuống 2 cột đấm và hai cột quyết.

Một dạng cấu trúc khá phổ biến và trở thành đặc trưng của kiến trúc nhà Rường vùng Đông Hà/Quảng Trị là ở gian chái, người ta thường sử dụng dạng kèo đấm, quyết kép/đôi mà dân gian gọi là “đấm - quyết thiệt”. Tên gọi này dùng để chỉ một tay kèo đấm và kèo quyết được nối với nhau bởi 2 tay kèo đấm - quyết thượng và hạ chồng lên nhau; đồng thời đi kèm với nó là 2 cột đấm và 2 cột quyết. Kết cấu kiểu này nhằm mục đích mở rộng thêm diện tích cho gian chái, làm cho không gian này từ một gian trở thành hai gian. Ðây gọi là kiểu chái kép. Vì vậy, nếu ngôi nhà 1 gian, 2 chái thông thường chỉ gọi là nhà 3 căn thì ngôi nhà có chái kép được gọi là nhà 5 căn. Ðiều này làm cho ngôi nhà dài thêm, quy mô lớn hơn nhưng đồng thời nó cũng làm cho không gian bên trong nhiều cột hơn. Ðể giải quyết vấn đề này, thông thường ở góc sau của gian chái, tay kèo quyết hậu được thay thế bằng một tay kèo suốt, còn góc phía trước của gian chái người ta đã tạo thêm bộ phận trến băng nối giữa các cột đấm, cột quyết để đỡ trên mình một cột đấm (dạng cột trốn) gọi là “khoá rương” để mục đích giảm bớt đi một cột đấm tiền nhằm mở rộng lòng nhà.

Bộ mái của nhà ở dân gian có khi lợp bằng ngói liệt, cũng có khi lợp bằng ngói móc. Hệ thống cửa chính của một ngôi nhà bao giờ cũng tạo dáng theo lối cửa “bản khoa”, kiểu “thượng song hạ bản”. Kiến trúc nhà Rường là kết cấu khung gỗ chịu lực được liên kết chặt chẽ bằng hệ thống các vài kèo và bằng sự ghép nối các cấu kiện trong từng vài kèo lại với nhau theo một sự sắp xếp có trật tự và đạt đến trình độ kỹ thuật tinh xảo. Các bộ phận trong các hệ thống vài kèo cũng như hệ thống gian chái, hệ thống đòn tay được liên kết với nhau bằng phương pháp chủ yếu là xẻ đầu cột, đục thân cột, khoét để khớp mộng và gắn chốt (tre goặc gỗ). Toàn bộ các cấu kiện chính nối với nhau hoàn toàn không nhờ vào một thứ nguyên liệu sắt, thép nào. Các cấu kiện được được tạo ra theo nguyên tắc rất lẻ tẻ, tách riêng nhằm thuận lợi cho việc di chuyển và tháo lắp, nhưng khi được ráp nối vào bộ khung thì tạo thành những liên kết hoàn chỉnh, thống nhất. Nhờ vậy, khi lắp ráp, tháo dỡ để dịch chuyển vị trí công trình từ nơi này đến nơi khác hoặc thay thế một thành phần nào đó trong bộ khung cũng rất dễ dàng và thuận lợi. Một tay kèo, một chân cột không may bị mối mọt, người ta chỉ việc tháo dỡ phần mái rồi tiến hành thay bộ phận mới vào mà bộ khung hoàn toàn không bị thay đổi.

Chi tiết trang trí trên cầu điếu, con bạo trong khung gỗ nhà Rường (Ảnh Yến Thọ)

 

Trang trí trong ngôi nhà Rường là sự thể hiện những mô típ hoa văn đẹp mắt làm tô điểm thêm vẻ đẹp cho toàn bộ ngôi nhà. Trên toàn bộ khung gỗ chịu lực, ngoài hàng cột tròn được bào nhẵn, duyên dáng thì mỗi bộ phận tay kèo, xà dọc, xà ngang... mỗi nơi có một cách thức trang trí riêng. Hệ thống các đòn tay, các xà ở mặt tiền, nhất là những xà và đòn tay nằm trên kèo cù được chạm trổ mặt dưới bụng nối dài theo từng đoạn cách nhau đều đặn. Trên các kèo thượng, hạ, kèo cù, bộ phận trến không chỉ có hình dáng đẹp do được bào nhẵn, các cạnh vuông, sắc, uốn cong duyên dáng mà còn được khắc nổi những đường gờ tinh xảo kéo dài từ trên xuống dưới ở chính giữa. Ðặc biệt, tay kèo cù bao giờ cũng được tạo dáng theo hình một con rồng biến thể gọi là con cù với dáng lượn mềm mại và những mô típ chạm khắc tỷ mẫn. Ở các đầu trếng, các đuôi kèo (cầu điếu) của các tay kèo thượng, hạ, những con bạo nằm trên cầu điếu là những nơi thể hiện tập trung nhất và tuyệt vời nhất trình độ chạm trổ của những nghệ nhân xây dựng nhà Rường. Bên cạnh các mảng trang trí ở các cấu kiện trong bộ khung gỗ chịu lực, các mô típ chạm gỗ nhà Rường dân gian còn tập trung thể hiện ở liên ba, thành vọng (diềm cột), đố bảng... với lối bố trí chặt chẽ, liên tục, phù hợp và hài hòa với toàn bộ tổng thể chung của một công trình kiến trúc. Ngoài ra, các hoạ tiết, các mảng trang trí có mặt hầu khắp các án thờ, các bức hoành phi, đối, liễn, đồ dùng...

Ðầu trếng chạm cách điệu hình đầu rồng. Ðầu kèo cù chạm hình đầu rồng biến thể, đuôi kèo hình đao mác. Dưới bụng các cầu điếu chạm tam sơn - biểu tượng tam tài (thiên, địa, nhân); hai bên sườn của cầu điếu chạm hình ảnh mây mác/đao mác với những hình cuộn nối tiếp theo dạng dải mây hồi cố, ở giữa đột ngột nổi lên những mũi mác đâm thẳng lên. Các con bạo đặt trên cầu điếu là những mảng trang trí công phu với nhiều mô típ như bát bửu, các bài thơ chữ Hán, dây leo, hoa lá... Trên các trến băng của bộ phận khoá rương ở gian chái thường chạm hình hổ phù, cuốn thư... Dưới bụng các xà thường chạm các hoạ tiết bát bửu, dây leo, các loại quả kết hợp với các đường diềm hồi văn, kỷ hà... Các thành vọng thường trang trí hình dơi ngậm kim tiền, dơi ngậm chữ thọ, chữ vạn. Tại xà cò, ấp quả, trụ tiêu đều trang trí các hình vân xoắn, ấp quả còn được tạo tác hình đôi cánh chim phượng hoàng đang dang rộng, đỡ dạ cặp kèo thượng làm giảm bớt đi sự nặng nề, thô cứng tạo cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng cho công trình. Hệ thống liên ba thượng, hạ thường trang trí ô học hình vuông hay chữ nhật, bên trong mỗi ô có khi gắn các con tiện hoặc các đường dây lá, hoa kết hợp với những hình kỷ hà, mắt lưới hoặc các mô típ rồng, phụng biến thể từ hoa lá với lối chạm lọng (chạm thủng); có khi chạm bong với các hoạ tiết thuộc bộ “bát bửu" (pho sách, cuốn thư, lẳng hoa, bầu rượu, đàn tỳ bà, cái quạt, phất trần, gậy như ý), bộ “tứ quý” (mai, sen, cúc, trúc), “tứ linh” (long, ly, quy, phụng), “tứ thời” (mai, sen, cúc, tùng), “tứ hữu” (mai, lan, cúc, trúc), các bài thơ chữ Hán... Nhiều gia đình giàu có còn sử dụng nghệ thuật khảm cẩn, khảm trai lên các bức liên ba làm cho ngôi nhà trông sang trọng, quý phái.

Nhà ở dân gian của người Việt thường tuân thủ theo thuật “phong thủy”. Để vừa tránh được cái nóng từ phía tây, những cơn bão từ phía đông và gió lạnh thổi về từ phía bắc (gió mùa) nên khi mở hướng nhà người dân thường chọn hướng chính nam hoặc đông nam: “Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng Nam”. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều làng xóm của người Việt Ðông Hà/Quảng Trị cũng không nhất quán theo một quy định chặt chẽ nào. Người ta chỉ kiêng nhất là quay hướng nhà về phía bắc, đông bắc còn thì đôi khi chỉ lấy hướng của mặt sông, hướng theo đường cái... làm hướng của nhà ở.

Ngoài ra, khi xây cất nhà cửa cũng cần phải chú ý tránh những hiện tượng như: “mũi đằng” (con đường đi vào nhà đâm thẳng vào cửa chính của bàn thờ); “góc ao, đao đình” (góc ao, đao đình chiếu thẳng vào nhà); cổng ngỏ cao hơn nhà chính; mái đốc của một ngôi nhà khác mé đằng trước đâm thẳng vào cổng ngỏ, soi tới trong nhà; trước cửa ngỏ có bãi tha ma hoặc đền miếu án ngữ...

Nhà ở được bố trí chính giữa không gian vườn tược (Ảnh Yến Thọ)

 

Quy hoạch khuôn viên của một gia đình bao giờ cũng có ngôi nhà chính, ngôi nhà phụ, phía trước có khoảng sân lát gạch hay chỉ là nền đất nện chặt dùng để phơi phóng, đan lát, làm các nghề phụ và tổ chức các cuộc nhóm họp đông người vào những dịp lễ lạt, tang ma, cưới xin... Chuồng trại gia súc được bố trí ở một đầu của nhà ngang hoặc được làm tách ra ở một nơi nào đó trong khu vườn và bao giờ cũng có thêm ụ/đụn rơm để vừa dự trữ thức ăn cho trâu bò vào mùa rét vừa dự trữ chất đốt thay củi. Ngày trước, cư dân Ðông Hà thường ăn uống và sinh hoạt bằng nước sông; thảng có những làng xóm sử dụng nước giếng thì thường lấy từ các giếng làng, giếng xóm - những giếng nước mà người tiền trú/người Chăm để lại; vì thế, mô hình giếng nước trong vườn nhà thường rất hiếm.Trước mặt ngôi nhà, phía ngoài khoảng sân bao giờ cũng có một ngôi miếu/am để thờ thổ thần/thần đất - vị thần cai quản, giám sát đất đai của từng gia đình; lại có khi thờ luôn cả những vong linh, cô hồn. Dù to hay nhỏ và bằng chất liệu gì thì cũng theo một kiểu thức chung là có một cột trụ, trên đó có một am/bệ/tran thờ - nơi đó đặt bát hương và những đồ thờ liên quan khác để phục vụ cho việc cúng lễ, hương khói trong các ngày mồng 1, 14, 15, 30 (âl) hàng tháng hay những lần gia đình có dịp cúng tế, giỗ chạp...

Hàng chè tàu được cắt xén hai bên lối đi từ cổng vào ngôi nhà (Ảnh Yến Thọ)

 

Ngăn cách giữa khuôn viên bên trong với không gian bên ngoài là các dạng hàng rào, cổng ngỏ. Khuôn viên những gia đình thường được bao quanh bởi những hàng rào bằng cây; phía trước là hàng dâm bụt, chè tàu cắt xén cẩn thận. Cổng ngỏ, bình phong thường do các cây dây leo, thảo mộc được uốn lượn, cắt tỉa mà thành. Phía trước thường trồng hàng cau, sau vườn trồng chuối. Trong vườn có cây ăn quả và những khoảnh đất dành để trồng các loại rau màu phục vụ cho bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Một vài nơi trong góc vườn trồng mấy loại cây lấy gỗ (xoan, mít) cùng với hàng tre phía sau vừa có tác dụng chắn gió bão vừa là nguyên liệu phục vụ sinh  hoạt và sản xuất. Những nhà bình dân nghèo cũng có vườn, có sân nhưng thường là hẹp. Cổng ngỏ được làm sơ sài với những cọc tre cùng những liếp nè để ngăn cách. Vườn tược chỉ một vài cây ăn quả cùng với những khoảnh đất được sử dụng trực tiếp vào việc trồng các loại hoa màu phục vụ cho nhu cầu đời sống.

Ngôi nhà chính là nơi sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình đồng thời cũng là nơi con cháu thờ cúng tổ tiên, ông bà và những người thân khi họ đã khuất. Cách bố trí không gian bên trong nhà dù ba, năm hay bảy gian đều dường như có chung một sơ đồ là bố trí theo chiều dọc. Tức là cho dù không gian ngôi nhà rộng hay hẹp thì đều được phân thành 3 lớp theo chiều dọc: lớp trong cùng là không gian tỉnh (thờ cúng, ngủ), lớp ở giữa là không gian vừa tỉnh, vừa động (tiếp khách, nghỉ ngơi, nhóm họp), lớp ngoài cùng là không gian động (đi lại). Một mô thức chung trong bố trí không gian đó là gian giữa thờ cúng, hai gian hai bên là đông phòng và tây phòng làm phòng ngủ.

Trong không gian của ngôi nhà phụ, phần chái ở phía trong cùng là chuồng trại gia súc, gia cầm, kế đến là gian bếp. Phía trên bếp có đặt một bàn thờ Táo quân. Phần còn lại của các gian phía ngoài là không gian dành cho các hoạt động của phụ nữ liên quan đến công việc nội trợ, chế biến (như: xay lúa, giã gạo, thái rau...), có khi được tạo thành một buồng ngủ dành cho người mẹ khi có con nhỏ hoặc khi trong nhà có nàng dâu sinh con mọn, nếu không thì gian này dùng để đặt lẫm lúa...

Ngoài ra, ở phía đầu hồi ngôi nhà chính hoặc xung quanh ngôi nhà phụ còn có thêm phần mái đua ra gọi là dại để dùng làm nơi chứa các các dụng cụ sản xuất, những đồ đạc lặt vặt khác hoặc dự trữ củi đốt.

Như vậy, nhà ở dân gian cổ truyền là một dạng văn hóa vật chất. Kiến trúc nhà ở dân gian gần gũi, ấm cúng và rất hiện thực với cuộc sống của mọi người dân. Ðây thực sự là những di sản có giá trị của cha ông chúng ta để lại mà các thế hệ hôm nay cần trân trọng, giữ gìn và bảo quản.

Tuy nhiên, trải qua các cuộc chiến tranh ly loạn, sự huỷ diệt của bom đạn đã làm cho phần lớn các ngôi nhà cổ đều bị hư hại. Ðặc biệt là dưới tác động của quá trình đô thị hoá trong các khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện nay, nhà ở dân gian đang phát triển theo chiều hướng bền vững, hiện đại và cao tầng hoá thì các kiến trúc kiểu nhà Rường, nhà Rội dần dần bị tháo dỡ. Chính thực tế này cùng với sự nhận thức chủ quan nhiều khi vội vàng chưa thấu tình, không đạt lý của chính nhiều thế hệ chủ nhân đã vô hình chung trở thành những tác nhân nguy hại làm cho di sản kiến trúc cổ truyền đang có nguy cơ biến mất.

Nếu trước những năm 1945, bất kỳ đi vào một làng xóm nào trên khu vực Ðông Hà/Quảng Trị chúng ta cũng đều nhìn thấy có nhiều nếp nhà Rường 3 gian, 2 chái bên cạnh một số lượng lớn nhà Rường 1 gian, 2 chái cùng với nhà Rội với phong cách kiến trúc cổ kính, khiêm nhường thì đến nay, thi thoảng chúng ta mới có thể nhìn thấy một vài nếp nhà Rường 1 gian, 2 chái hoặc còn giữ tương đối nguyên vẹn hoặc đã bị sửa chữa, thay đổi làm biến dạng.

Những ngôi nhà Rường cổ truyền được phục dựng để làm quán cà-phê
tạo cho bức tranh đô thị thêm sắc màu (Ảnh Yến Thọ)

Dẫu biết rằng sự mất đi dần những ngôi nhà cổ dân gian để thay bằng những ngôi nhà hiện đại, cao tầng là việc tất nhiên của sự phát triển đời sống xã hội, nhưng bức tranh đô thị sẽ đơn điệu, thô ráp biết nhường nào khi không còn những ngôi nhà Rường nép mình trong mảnh vườn cây trái xanh tươi. Ðó là khoảng không gian rất cần thiết để điều hoà bức tranh văn hoá đô thị.

Nhà ở dân gian cổ truyền với những ưu điểm đặc biệt của nó phải được gìn giữ như những di sản. Chúng ta có thể băn khoăn về cách thức để bảo tồn nhưng không cần phải bàn thêm ý nghĩa cần bảo tồn nhà ở cổ truyền người Việt vùng Ðông Hà trong xu thế phát triển của đô thị. Bởi vì thực tế trong những năm gần đây đã chứng tỏ tính ưu việt của nhà Rường bằng việc nhiều gia đình giàu có đã và đang đi tìm mua nhà Rường để dựng lại nhằm phục vụ cho thú tiêu giao của giới thượng lưu. Bên cạnh đó, ở nhiều nơi trên các đường phố Ðông Hà, hiện tượng dựng nhà Rường để làm các nhà hàng, quán cà phê... đang thu hút rất nhiều thực khách tìm đến và mang lại một khoản lợi nhuận đáng kể cho chủ nhân đã chứng thực rất sinh động giá trị văn hoá (kể cả kinh tế) của những ngôi nhà Rường trong nền kinh tế thị trường. Ðó là chưa nói đến khi một vài làng xã trong khu vực đô thị Ðông Hà được quy hoạch, được bảo tồn, được xây dựng thành những làng sinh thái văn hoá như nhiều nơi đã và đang làm (như làng cổ Đường Lâm, Phước Tích... và nhất là nhiều nơi ở thành phố Huế) thì các lợi ích mang lại về kinh tế từ du lịch sẽ không phải là nhỏ.

 

Quy hoạch để bảo tồn (kể cả việc phục dựng) các kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống (nhất là nhà Rường) trong khu vực đô thị một cách hợp lý, nhất là các phường ven đô là một định hướng đúng cần phải được nhân dân, các cấp chính quyền quan tâm ủng hộ và tìm các biện pháp thực hiện./.

                Yến Thọ

 

(*) Những ngôi nhà có vẻ nguyên thuỷ nhất như: nhà bà Trần Thị Duông (KP 8, phường Ðông Thanh), nhà ông Phạm Ðình Ngụ (KP 9, phường Ðông Thanh).

(**) Nhà ông Phạm Tịnh (KP 3, phường Ðông Lễ), nhà ông Trần Sắt (KP 5, phường Ðông Thanh), nhà ông Nguyễn Thái (KP 1, phường 2), nhà bà Nguyễn Thị Vọng (KP 1, phường 2), nhà ông Phạm Hoá (KP 8, phường Ðông Thanh)...

(***) Nhà ông Hoàng Phước (KP 1, phường 2), nhà ông Võ Văn Chung (cà phê Nhà Cổ) đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (phường I), nhà ông Thái Xuân Lãm (đường Ngô Quyền), nhà ông Phan Xuân Kiểu (KP 5, phường 2)...

XEM THÊM VỀ CHUYÊN MỤC KHÁC
CHI BỘ TÂN TƯỜNG - MỘT TRONG BA CHI BỘ RA ĐỜI ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRỊ VĨNH KHÊ - NƠI ĐẶT TRẬN ĐỊA TÊN LỬA TIÊU DIỆT MÁY BAY B52 ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM BÙI DỤC TÀI - NGƯỜI ĐẦU TIÊN CÓ CÔNG MỞ ĐƯỜNG HỌC VẤN, KHOA BẢNG VÙNG CHÂU THUẬN TRẦN HỮU DỰC - NGƯỜI THÀNH LẬP TỔ CHỨC ÁI HỮU DÂN ĐOÀN Ở QUẢNG TRỊ BẾP LỬA NHÀ SÀN - NÉT SINH HOẠT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ TRANG SỨC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ Tết Đoan Ngọ qua tài liệu mộc bản triều Nguyễn