CHUYÊN MỤC KHÁC
TRANG SỨC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ

Cập nhật ngày: 7/3/2020 9:36:49 AM

Bru - Vân Kiều và Tà Ôi là hai trong 54 thành phần dân tộc Việt Nam hiện đang sinh sống trên dãy Trường Sơn, địa bàn phân bố chủ yếu là ở phía tây tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Huế. Do những tính chất đặc thù của điều kiện cư trú, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và ít có quan hệ giao lưu với các yếu tố mới của văn minh bên ngoài nên văn hoá của họ giữ được nhiều nét đặc trưng riêng mang đậm tính bản sắc tộc người. Tất cả những nét văn hoá đó đã hoà quyện để tạo nên vốn văn hóa quý giá trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Một phần trong những sắc thái độc đáo tạo nên những nét riêng cho mỗi dân tộc chính là những trang sức truyền thống. 

Trong cuộc sống hàng ngày nhất là vào các dịp cưới xin, lễ tết hội hè người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi thường đeo một số đồ trang sức để tô điểm làm đẹp cho cơ thể. Đồ trang sức phổ biến mà phụ nữ nào cũng có là chuổi hạt đeo cổ, vòng đeo cổ, vòng đeo tay, khuyên tai… nó được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như bạc, đồng, mã não, hạt cườm… Bên cạnh đó cả nam lẫn nữ người Bru - Vân Kiều, Tà Ôi còn có tục trang điểm trực tiếp trên cơ thể là bối tóc, cà răng, căng tai và xăm mình.

Đối với phụ nữ Bru - Vân Kiều trang sức được ưa chuộng nhất là chuỗi hạt đeo cổ, vòng đeo cổ, vòng đeo tay.

 

Già làng Tà Ôi (Ảnh: Khánh Toàn)

 

Chuỗi hạt đeo cổ nổi tiếng là hạt mã não (kray hột) được kết từ nhiều hạt nhựa cứng màu đỏ sẫm, hình lục giác, được nhập từ Lào về. Đây là vật vừa mang tính trang sức vừa mang tính tâm linh của người Bru - Vân kiều. Trong lễ cưới, nhà trai thường phải đặt 5 hạt mã não trong chiếc nồi đồng để nhà gái dâng cúng tổ tiên. Chú rể cũng tặng mẹ vợ, anh chị em vợ mỗi người 5 hạt. Trong một số nghi lễ, chuỗi hạt mã não còn được coi như là một vật cúng thần.

Hiện nay chuỗi hạt mã não vẫn được phụ nữ Bru - Vân Kiều ưa thích và cất giữ như là một tài sản quý. Ngoài ra, phụ nữ Bru - Vân Kiều còn sử dụng chuỗi cườm được kết từ nhiều hạt cườm bằng thuỷ tinh màu hồng nhạt. Chuỗi cườm cũng là đồ sính lễ trong ngày cưới  của các cô gái Bru - Vân Kiều. Trong ngày, chú rể trước khi đón cô dâu về phải tự tay đeo vào cổ cô dâu một chuỗi.

Vòng đeo cổ (xươn) là một loại vòng được uốn từ một sợi dây đồng hoặc nhôm, chính giữa to hai đầu được chuốt nhỏ rồi uốn tạo móc để cài vào nhau. Khoảng 8 - 9 tuổi, các cô gái Bru - Vân Kiều được bố hoặc anh làm hoặc mua cho những chiếc vòng kiểu này. Khi đeo người ta dùng sức mạnh của hai tay ép hai đầu vòng vào, tách hai móc ra khỏi nhau rồi lòng vào cổ từ phía trước ra sau. Sau đó họ ép hai đầu vòng để móc vào nhau cho trở lại hình dáng ban đầu. Loại vòng này xưa rất thông dụng ở người Bru - Vân Kiều cũng như nhiều dân tộc khác trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên. Ngày nay, phụ nữ vẫn đeo loại vòng này, tuy số lượng ít hơn.

Vòng đeo tay (kang) được đúc bằng bạc, miệng rộng để tiện khi đeo vào hoặc tháo ra. Các gia đình Bru - Vân Kiều thường thuê thợ người Kinh đúc để tặng cho con dâu trong ngày cưới. Vòng được đeo thường ngày, nhất là khi tham dự lễ cưới và một số nghi lễ khác do gia đình hay cộng đồng tổ chức. Mỗi người có thể đeo một chiếc, một đôi hoặc 3 đến 4 đôi trên tay hoặc cả hai tay, tuỳ theo khả năng kinh tế và ý thích của mỗi người. Vòng tay bằng bạc là một trong những tài sản quý thể hiện tiềm lực kinh tế và địa vị xã hội của gia chủ, không những thế, theo một số quan niệm của người Bru - Vân Kiều, vòng tay bạc còn là nơi trú ngụ linh hồn của ngươi đeo. Trong một số nghi lễ, vòng còn được sử dụng như một vật quý cúng thần. Tuy vậy, khi cần thiết người ta cũng có thể đem vòng đi bán hoặc trao đổi. Ngày nay, dù ý nghĩa tâm linh đã có phần phai nhạt nhưng những chiếc vòng bạc này vẫn là đồ trang sức đắt tiền rất được phụ nữ ưa chuộng. Bên cạnh đó người Bru - Vân Kiều còn sử dụng những vòng đeo tay được làm từ nhiều chất liệu khác như đồng, nhôm, chuỗi hạt mã não…

Đối với phụ nữ Tà Ôi loại trang sức được ưa chuộng nhất là chuỗi hạt đeo cổ, vòng đeo cổ và khuyên tai.

 Nữ giới người Tà Ôi từ xưa đến nay thích đeo nhiều chuỗi hạt quanh cổ và dài trễ xuống ngực, trong đó phổ biến là loại chuỗi hạt được làm từ ba loại hạt cườm nhựa có màu sắc và kích cỡ khác nhau để xâu dây làm thành các chuỗi hạt đeo cổ: hạt to (rol), hạt vừa (tenh), hạt nhỏ (arác). Ngoài ra, chuỗi hạt mã não là một loại rất quý, vừa là trang sức, vừa là một biểu tượng về "quyền lực" và sự giàu có, sang trọng của người Tà Ôi. Ai có nhiều mã não, chắc chắn người đó rất giàu có và có địa vị cao trong cộng đồng. Mỗi một phụ nữ Tà Ôi khi lấy chồng, của hồi môn mang theo luôn là những hạt mã não và đó cũng là món quà thiêng liêng của cô dâu được nhà chồng tặng cho nhân ngày cưới. Nhà nào giàu thì cho con gái một đôi chuỗi; giàu vừa thì một vòng đeo tay; tệ lắm thì cũng phải có một đôi hạt. Khi đeo, nếu không có được chuỗi mã não riêng thì có thể điểm xuyết một số hạt vào chuỗi cườm để tăng giá trị. Ngoài chuỗi hạt, người Tà Ôi còn sử dụng vòng cổ được nối từ nhiều vòng kim loại. Tuy nhiên, loại hình trang sức ngày hiện nay ít thấy sử dụng.

Khuyên tai (para) của người Tà Ôi trước đây là một vòng kim loại nhỏ có thể bằng bạc hoặc mạ bạc, cốt là đất sét nên khá nặng. Ngoài ra còn có loại khuyên kim loại đặc hình dấu hỏi, hình xoắn ốc thường bằng đồng hoặc bạc cũng to và nặng. Khuyên có thể to nhỏ khác nhau, có chiếc đường kính tới 5 đến 6cm. Khuyên là trang sức của nữ giới, họ đeo mỗi bên một chiếc. Từ 6 đến 8 tuổi, các bé gái đã được xâu lỗ tai và đeo khuyên tai. Theo tuổi tác, người ta đeo khuyên tai to dần lên. Càng về già, lỗ đeo càng rộng ra, dái tai càng xệ xuống, người ta coi đó là vẻ đẹp sang trọng. Các bà mẹ thường cho con gái khuyên tai, có những đôi khuyên từ đời bà, đời cụ truyền lại. Bố mẹ chồng cũng tặng khuyên cho con dâu mới trong ngày cưới. Người Cơ Tu láng giềng và nhiều dân tộc khác ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên cũng sử dụng khuyên tai tương tự. Ngày nay, những khuyên tai kiểu này thường được cất giữ như kỷ vật, thi thoảng mới có cụ bà đeo trang sức hàng ngày. Ngoài ra đàn ông và đàn bà Tà Ôi còn đeo loại khuyên tai hình chóp cụt bằng xương hay quý hơn bằng ngà.

Ngoài các loại hình trang sức truyền thống trên, người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi còn sử dụng một số loại hình trang sức khác như nhẫn đeo tay, vòng đeo chân bằng đồng hoặc bạc nhưng thường ít hơn. Bên cạnh đó người ta còn sử dụng những đồng tiền bằng bạc cũ (tiền Đông Dương loại 20cent hoặc 100cent), sau đó đục một lỗ trên đồng tiền xu rồi luồn dây vào để đeo cho trẻ con với ý nghĩa vừa là đồ trang sức vừa nhằm mục đích kị gió.

Đối với nam giới, những đồ trang sức như: móng cọp, răng cọp, nanh lợn rừng… lại rất được chú trọng. Hình thức đeo các bộ phận của động vật này đối với đàn ông, con trai Bru - Vân Kiều và Tà Ôi cũng thường gắn chặt với quan niệm xem như là một lá bùa hộ mệnh đối với họ, giúp họ tránh được những đe doạ từ thú dữ. Ngoài ra, theo quan niệm của đồng bào, việc đeo vuốt hổ, nanh lợn rừng còn tạo sự may mắn trong săn bắt, một “bảo vật” thệ hiện sự oai vệ, lòng dũng cảm và sự khéo léo tài giỏi của người đàn ông. Những kiểu trang sức này được dùng khi chính tay họ săn bắn, không được lấy của người khác đeo vào. Chính vì vậy, đeo loại này thường chỉ những người đàn ông trung niên, vì ở độ tuổi này mới có đủ kinh nghiệm, thời gian để săn được những con thú hung dữ này.

Xưa kia, nam, nữ người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi còn thích trang điểm trên thân thể để làm đẹp, đáng chú ý là cách để mái tóc, việc cà đi một số răng cửa, căng tai và việc xăm hình bằng chàm ở nhiều chỗ thuộc nửa thân trên.

Đàn ông cũng như đàn bà Bru - Vân Kiều, Tà Ôi xưa kia đều búi tóc. Con gái chưa chồng búi tóc bên trái, khi đã có chồng búi tóc ở đỉnh đầu.

Cà răng, căng tai là một tục lệ được tiến hành khi trai gái bước vào tuổi dậy thì. Cà răng, căng tai ngoài chức năng làm đẹp còn là nghi lễ đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổi trưởng thành: lễ thành đinh. Đây được xem là một tục lệ “bất di bất dịch” của người Bru - Vân Kiều Tà Ôi xưa. Đồng bào Bru -Vân Kiều và Tà Ôi cho rằng có hoàn tất thủ tục cà răng, căng tai thì những vị thành niên đó mới thực sự là những người lớn, người có đủ tư cách đi lấy vợ, lấy chồng, mới được xem là một thành viên chính thức của làng bản. Nếu chưa cà răng, căng tai dù trải qua tuổi 14, 15 nhưng những trai chưa vợ, gái chưa chồng vẫn bị xem là những người còn nhỏ, chưa đủ điều kiện để nghĩ đến cuộc sống tự lập… Tục cà răng  một mặt đánh dấu mốc chuyển giai đoạn trong cuộc đời của mỗi con người, mặt khác là sự thử thách lòng dũng cảm, sức chịu đựng của cá nhân như một dạng hành xác, huấn luyện sức chịu đựng tinh thần… Bởi lẽ để tiến hành cà răng người con trai phải chịu đựng một sự đau đớn kinh khủng về thể xác. Thường người ta cưa 6 chiếc răng của hàm trên trước rồi đến 6 chiếc răng của hàm dưới, chỉ để lại 16 chiếc răng để nhai vật cứng. Hai ngày sau khi cưa phải nhuộm răng thành màu đen bằng nước vỏ cây rỏi. Cà răng là một tiêu chuẩn của cái đẹp. Đồng bào Bru - Vân Kiều và Tà Ôi quan niệm những chàng trai chưa vợ đẹp trai là những người có 6 cái răng cửa hàm trên thật ngắn. Răng càng sát lợi bao nhiêu càng được đánh giá cao về lòng dũng cảm và về sắc đẹp. Tục cà răng của người Bru - Vân Kiều, Tà Ôi hiện nay đã được xoá bỏ bởi vì nó gây nhiều tác hại cho sức khoẻ. Tục này chỉ để lại dấu vết ở những người đàn ông 50, 60 tuổi trở lên.

Khác với tục cà răng chỉ thực hiện riêng cho những người đàn ông, tục căng tai thực hiện cho cả nam, lẫn nữ. Tục căng tai thể hiện quan niệm về cái đẹp nhiều hơn là lòng dũng cảm. Người được căng tai không phải chịu nhiều đau đớn về thể xác. Sau khi xâu tai, lỗ tai sẽ được đeo tằm (bằng bạc có cấu tạo hình que) tiếp đến là đeo hoa tai bằng bạc nén, loại này to gấp 3 lần tằm. Hai loại này được dùng cho thiếu nữ chưa chồng. Còn khi đã có chồng, để chứng tỏ mình đã là người của người khác thì phải chuyển sang đeo vòng tai bằng bạc, vòng tai thường có đường kính khoảng 2cm, nặng khoảng 10 phân. Đến khi đứng tuổi, chị em phụ nữ lại đeo loại khác nặng gần gấp đôi vòng tai trước đó. Nó cũng được làm bằng bạc và có đường kính khoảng 3cm, to bằng ngón tay út nhưng hai đầu mút bằng và chạm sát vào nhau chứ không nghoéo như trước. Đeo tằm lâu ngày và cứ thay đổi trọng lượng theo thời gian thì lỗ tai sẽ rộng dần ra và người ta xem đó là biểu hiện của vẻ đẹp quý phái sang trọng và nhân hậu. Càng rộng càng tốt, song tuyệt nhiên không được đứt dái tai. Nếu điều không may xảy ra thì không còn được đeo tằm nữa. Xâu tai, thường ở lứa tuổi lên sáu nhưng căng tai phải đợi đến 13 tuổi. So với con gái thì con trai tự do hơn, luật tục không nhất thiết yêu cầu họ phải căng tai.

Bên cạnh làm đẹp bằng cà răng, căng tai, nam nữ Bru - Vân Kiều và Tà Ôi còn thích làm đẹp bằng những hình xăm trên da. Các mô típ thường thấy là hình các ngôi sao và hình mặt trời ở ngực, bả tay người nam; hình chữ vạn ở trán và ở má người phụ nữ, hình vuông và hình người cách điệu hoá ở trán người nam. Đàn ông còn có những kiểu và những hình xăm riêng cho giới tính của mình như: nhổ hết lông mày và xăm thay vào đó mỗi bên một hàng nốt chấm chạy đến mang tai, hay nhổ hết râu mép và xăm thay vào đó mỗi bên một hàng nốt chấm chạy cong vểnh lên đến gò má rồi thêm ba nốt chấm đậm nét ở mỗi bên mép. Có người còn xăm cả bộ râu hàm bằng hai đường cong vây lấy cằm và tiếp nối bằng những đường thẳng chạy xuôi trên cổ… Ngày nay, sống trong thời đại văn minh tiến bộ, các thế hệ con cháu người Bru Vân Kiều và Tà Ôi không còn theo tập tục trang điểm này nữa, bởi lẽ tục xăm mình không chỉ gây đau đớn cho thân thể mà còn làm mất vẻ đẹp tự nhiên của con người. Họ xem đó chỉ là một nét văn hoá của một thời.

Truyền thống sử dụng đồ trang sức và coi đó là bảo vật trong cuộc đời mỗi người là tập quán tốt đẹp của dân tộc ta ở các vùng miền. Trang sức không chỉ làm đẹp cho hình thức con người mà còn là biểu tượng của tình yêu và sự kết nối giữa các thế hệ xuyên suốt thời gian qua các thời đại. Nó sẽ được gìn giữ lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trang sức truyền thống của người Bru Vân Kiều, Tà Ôi nói riêng, các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung mãi mãi tôn vinh nét đẹp của con người sống trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên hùng vĩ cùng bề dày văn hoá; góp phần tô điểm cho vẻ đẹp chung của cả dân tộc.

                                                                                                                                                                                                        Trần Thị Nhàn

XEM THÊM VỀ CHUYÊN MỤC KHÁC
Tết Đoan Ngọ qua tài liệu mộc bản triều Nguyễn