CHUYÊN MỤC KHÁC
VỀ NHỮNG GIẾNG CỔ Ở CÙ LAO BẮC PHƯỚC (XÃ TRIỆU PHƯỚC, HUYỆN TRIỆU PHONG)

Cập nhật ngày: 10/6/2022 7:39:53 PM

1. Đôi nét về lịch sử cù lao Bắc Phước

Sông Thạch Hãn trước khi hòa mình vào biển đông qua Cửa Việt đã chia đôi dòng và bồi đắp chút phù sa ít ỏi để giữ lại một bãi bồi ngay chốn cửa sông được người dân gọi là cù lao Bắc Phước (thuộc xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong), với tổng diện tích khoảng 4 km2. Tuy chỉ là một cù lao được bao bọc 4 phía là sông nước nhưng đã từ rất lâu, nơi đây là đất cư ngụ của người dân 3 làng Duy Phiên, Dương Xuân và Hà La. Trong đó, làng Duy Phiên được hình thành sớm vào thế kỷ XV còn hai làng Dương Xuân và Hà La rất muộn về sau.

Điều đáng nói là làng Duy Phiên nguyên trước thuộc tổng An Mỹ, châu Minh Linh; đến thời Nguyễn (cuối thế kỷ XIX) vẫn thuộc đơn vị hành chính của tổng An Mỹ huyện Gio Linh, chứng tỏ rằng, cù lao Bắc Phước trước thế kỷ XX thuộc địa bàn huyện Gio Linh.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, các làng Duy Phiên, Dương Xuân và Hà La thuộc xã Phong Thái 1; năm 1950 thuộc xã Triệu An 2; từ năm 1958 thuộc xã Triệu Phước 3 cho đến ngày nay.

Làng Duy Phiên: Nằm về phía tây bắc của cù lao Bắc Phước,là một trong những làng/xã được hình thành tương đối sớm trên vùng đất Quảng Trị (thế kỷ XV), thông qua những chính sách di dân, mở mang lãnh thổ về phương Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt. Theo sách Ô châu cận lục của Dương Văn An (1555) thì Duy Phiên là một trong 65 xã thuộc châu Minh Linh 4 (huyện Vĩnh Linh và Gio Linh ngày nay). Dưới thời các chúa Nguyễn, Duy Phiên là một xã thuộc tổng Yên/An Mỹ, huyện Minh Linh 5. Thời nhà Nguyễn và thời thuộc Pháp, làng Duy Phiên thuộc tổng An Mỹ, huyện Gio Linh, Đạo Quảng Trị 6.

Làng Dương Xuân: tọa lạc phía tây nam của cù lao Bắc Phước, làng Dương Xuân xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong có gốc tích từ làng Dương Xuân thuộc tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên 7 (nay là phường Hương Sơ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế). Vào năm 1802, sau khi Gia Long lên ngôi, triều đình nhà Nguyễn đã sử dụng một phần điền ấp để mở rộng kinh thành Phú Xuân, nhiều làng/xã bị thu hẹp, trong đó có làng Dương Xuân. Từ đó một bộ phận dân cư làng Dương Xuân phải ra đi tìm nơi ở mới và họ đã chọn vùng đất ở gần sông nước - cù lao Bắc Phước để sinh sống, trồng trọt và khai thác tiềm năng thủy sản. Vì vậy, Dương Xuân là một làng được hình thành tương đối muộn so với nhiều làng khác trên địa bàn Triệu Phong/Quảng Trị (những năm đầu thế kỷ XIX). Theo sách Đồng Khánh địa dư chí thì làng Dương Xuân lúc bấy giờ thuộc tổng An Cư, huyện Đăng Xương, đạo Quảng Trị 8.

Làng Hà La: Nằm phía đông nam của cù lao Bắc Phước. Hà La vốn là một xóm của làng An Cư 9. Ban đầu một người dân của làng An Cư sang lập trại để trong coi đất đai, vào khoảng năm 1910 một nhóm dân cư (5 - 6 hộ gia đình) đã sang định cư và lập ra xóm Hà La 10. Trải qua quá trình phát triển, dân cư ngày càng đông đúc nên được chính quyền cho tách ra thành một làng/thôn mới độc lập riêng biệt. Tuy nhiên, về mặt tín ngưỡng, tâm linh và những truyền thống văn hóa mang dấu ấn cộng đồng làng thì người dân Hà La vẫn trở về làng An Cư để sinh hoạt.

2. Những giếng cổ ở cù lao Bắc Phước

Trong đợt khảo sát vào tháng 4 năm 2021 trên cù lao Bắc Phước, chúng tôi đã phát hiện 3 giếng cổ nằm trên địa bàn hai làng Hà La (1 giếng) và Duy Phiên (2 giếng). Ngoài ra, tại làng Duy Phiên còn có một giếng khác nhưng đến nay đã bị vùi lấp. Tại làng Dương Xuân, chúng tôi không thấy một giếng cổ nào.

2.1. Giếng Chùa (làng Hà La): Giếng tọa lạc trong khuôn viên của Nhà văn hóa thôn, trên một khu vực khá rộng và cao ráo ở trung tâm của làng Hà La. Nguyên xưa đây là khu vực tọa lạc của chùa làng An Cư, trong những năm kháng chiến chống Pháp, thực hiện chủ trương vườn không nhà trống của chính quyền cách mạng, chùa đã bị phá dỡ. Giếng nằm trong khuôn viên chùa nên được người dân gọi là giếng Chùa.

Theo ông Nguyễn Hữu Viễn (82 tuổi), giếng Chùa có nguồn nước rất trong và là giếng tốt nhất của cù lao Bắc Phước, nguồn nước ở giếng này cung cấp cho phần lớn cư dân của 3 làng Hà La, Duy Phiên và Dương Xuân trong nhiều thế kỷ trước, thậm chí không ít lần ghe thuyền trong hành trình xuôi ngược dòng Thạch Hãn đã ghé vào lấy nước ở đây để sử dụng.

Giếng Chùa bị hư hại và hoang phế trong những năm kháng chiến chống Mỹ, mãi cho đến năm 2011, dân làng Hà La mới cho tu sửa lại để bảo lưu những dấu ấn lịch sử văn hóa của làng. Giếng hiện nay không được sử dụng.

Giếng Chùa thuộc loại giếng khơi, có cấu trúc hình tròn, được xây theo lối sử dụng các viên đá chẻ xếp chồng lên nhau để tạo ra vách và thành giếng, các viên đa được ghè đẽo 4 mặt tạo thành hình chữ nhật, dưới đáy có khung gỗ hình vuông.

Giếng Chùa làng Hà La, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong (Ảnh Nguyễn Cường)

 

Thành giếng cao 0,60m, đường kính 1,42m; chiều cao từ thành giếng xuống tận đáy là 3m và từ nền giếng xuống đáy là 2,40m, nước sâu khoảng 0,5m. Các viên đá dùng để tạo ra vách và thành giếng là loại đá tổ ông bazan có màu xám. Từ đáy lên thành giếng có 8 lớp đá xếp chồng lên nhau, không có vữa kết dính (ngoại trừ lớp vữa giữa hai lớp đá trên cùng và mặt trên của thành giếng được người dân trát vào khi tu sửa giếng vào năm 2011), những viên đá gồm nhiều kích cỡ khác nhau: nhỏ nhất 34cm x 36cm, lớn nhất 36cm x 66cm, dày 25cm.

2.2. Giếng Tây (làng Duy Phiên): Giếng nằm trong khuôn viên nhà ông bà Trần Đình Tánh và bà Nguyễn Thị Lành. Người dân làng Duy Phiên không ai biết giếng có từ bao giờ. Đây vốn là giếng chung của cộng đồng làng, không thuộc riêng gia đình nào, nước tương đối tốt và không bao giờ cạn, nhưng từ khi các hộ gia đình sử dụng nước giếng khoan thì giếng Tây được gia đình ông Tánh bảo quản và sử dụng.

Giếng Tây thuộc loại giếng khơi, có cấu trúc hình vuông cạnh dài 1,6m (tính từ mép ngoài) được xây theo lối xếp chồng các viên gạch lên nhau để tạo ra vách giếng, dưới đáy có khung gỗ hình vuông.

Thành giếng cao 0,43m, xây bằng bờ lô và vữa xi măng, do gia đình ông Tánh xây vào năm 2018; chiều cao từ thành xuống đáy là 3,13m và từ nền giếng xuống đáy là 2,7m, nước sâu khoảng 0,3m. Gạch để tạo ra vách giếng là loại gạch vồ, từ đáy lên vị trí tiếp giáp với thành giếng có 32 lớp đá xếp chồng lên nhau, giữa các lớp gạch xếp không dùng chất kết dính; các lớp gạch xếp nằm dọc cắm sâu vào bờ đất để chống sự sụp đổ vách giếng, xen lẫn trong các lớp gạch nằm dọc có mộ số viên gạch được xếp nằm theo chiều ngang vách giếng. Xen giữa lớp gạch cuối cùng và khung gỗ có kè một lớp đá cuội sông xen lẫn đá gan gà, dày 0,20m. Khung gỗ vuông cao 0,45cm.

Giếng Tây làng Duy Phiên, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong (Ảnh NC)

 

2.3. Giếng Vòi (làng Duy Phiên): Giếng Vòi thuộc xóm Trên làng Duy Phiên; Giếng nằm sát đường bê tông (nền đường đã che lấp 1/2 lòng giếng). Theo người dân địa phương, giếng có mội nước phun lên rất mạnh như vòi nước nên được gọi là giếng Vòi 11.

Giếng Vòi vốn là giếng chung của xóm Trên làng Duy Phiên, nước tương đối tốt và không bao giờ cạn, nhưng từ khi các hộ gia đình sử dụng nước giếng khoan thì giếng không còn được sử dụng phục vụ sinh hoạt nên trở thành hoang phế, nguồn nước bị ô nhiễm và chỉ còn được người dân sử dụng để tưới cho cây trồng.

Giếng Vòi làng Duy Phiên thuộc loại giếng khơi, có cấu trúc hình tròn, được xây theo lối sử dụng các viên đá chẻ xếp chồng lên nhau để tạo ra vách và thành giếng, dưới đáy có khung gỗ hình vuông.

Thành giếng cao 0,60m, đường kính 1,40m, được xây mới bằng bờ lô và vữa xi măng vào năm 2014, miệng giếng được đậy một tấm đan bê tông; chiều cao từ thành giếng xuống tận đáy khoảng là 3m, nước sâu khoảng 0,5m. Vách giếng được tạo thành bởi các viên đá tổ ông bazan có màu nâu đỏ xếp chồng lên nhau, không có vữa kết dính; những viên đá được gia công 4 mặt và gồm nhiều kích cỡ khác nhau.

3. Vài lời tạm kết

Những giếng cổ ở cù lao Bắc Phước thuộc loại hình giếng khơi được đào sâu xuống dưới mặt đất để khai thác mạch ngầm phục vụ cho sinh hoạt; gồm có hai loại hình cấu trúc: hình tròn xếp đá và hình vuông xếp gạch. Tất cả các giếng đều có khung gỗ vuông dựng sát đáy, từ đó gạch hay đá được xếp lên, đây là một đặc trưng cơ bản của giếng Chăm cổ 12. Gạch hay đá xếp để tạo thành lòng giếng không có chất kết dính.

Vật liệu để xây giếng chủ yếu là đá tự nhiên (tổ ông/bazan) và gạch. Nguồn nguyên liệu đá sử dụng trong các giếng được khai thác từ vùng Gio Linh 13.

Những giếng cổ ở cùa lao Bắc Phước hầu hết đã được tu sửa hoặc làm lại. Theo chúng tôi, các giếng ban đầu có cấu trúc hình vuông, về sau được cải tạo thành hình tròn (thói quen đào giếng của người Việt), đây có lẽ là chủ ý của các lớp cư dân kế thừa tạo nên dấu ấn cho riêng mình chăng?

Chúng tôi cho rằng những giếng cổ trên cù lao Bắc Phước là sản phẩm của những nhóm cư dân Chăm, họ đã đến định cư trên khu này để khai thác những tiền năng vốn có của vùng đất này. Điều này cũng cần được nghiên cứu sâu rộng hơn để xác định chính xác chủ nhân của những công trình giếng cổ này.

Trải qua thời gian những giếng cổ ở cù lao Bắc Phước đã không còn phát huy giá trị trong đời sống sinh hoạt, nhưng đó là những di sản quý giá của tiền nhân để lại cần được trân trọng và bảo tồn./.

                                                                                                               Nguyễn Cường

Chú thích

1 Phong Thái là 1 trong 14 xã của huyện Triệu Phong, gồm: Phong Nguyên, Phong Sơn, Phong An, Phong Hanh, Phong Gia, Phong Việt, Phong Hội, Phong Thanh, Phong Đăng, Phong Quang, Phong Lai, Phong La, Phong Xá, Phong Thái.

2 Xã Triệu An gồm xã Phong Thái và xã Phong Việt cùng với thôn An Lợi hợp thành.

3 Triệu An là 1 trong 18 xã của quận Triệu Phong, gồm: Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Hòa, Triệu Thành, Triệu Thượng, Triệu Lăng, Triệu Trung, Triệu Thuận, Triệu Ái, Triệu Giang, Triệu Tài, Triệu Phước, Triệu Trạch Triệu Long, Triệu Vân, Triệu Sơn, Triệu Lương, Triệu Lễ.

4 Dương Văn An. Ô Châu cận lục. Do Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú giải. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 30

5 Lê Qúy Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007, tr. 103.

6, 7, 8 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðồng Khánh địa dư chí. Sách điện tử.Bản dịch của Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên và Philippe Papin, tr. 1391, 1418 và 1384.

9 An Cư là một trong những làng ra đời sớm ở vùng đất Triệu Phong/Quảng Trị (thế kỷ XV - XVI), được Dương Văn An liệt kê trong sách Ô châu cận lục (1555). Làng An Cư trước đây có 3 xóm: xóm Trên, xóm Dưới và xóm Hà La.

10 Theo lời kể của ông Nguyễn Hữu Sĩ (sinh năm 1923), làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong (năm 2011).

11 Theo ông Lê Bá Lâu (90 tuổi), làng Duy Phiên, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong.

12 Xem thêm: - Nguyên Tiến Đông. Hệ thống giếng cổ trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Kiến thức lịch sử - văn hóa (trang thông tin điện tử Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ngày 16-01-2019).

 13 Yến Thọ. Kỹ thuật xây dựng giếng Chăm vùng Quảng Trị. Tạp chí Cửa Việt, số 308, tháng 5-2020.

14 Theo lời kể của ông Nguyễn Hữu Viễn (82 tuổi), làng Hà La, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong.

 

XEM THÊM VỀ CHUYÊN MỤC KHÁC
NHÀ Ở DÂN GIAN CỔ TRUYỀN QUẢNG TRỊ (DẪN LIỆU TỪ VÙNG ĐÔNG HÀ) CHI BỘ TÂN TƯỜNG - MỘT TRONG BA CHI BỘ RA ĐỜI ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRỊ VĨNH KHÊ - NƠI ĐẶT TRẬN ĐỊA TÊN LỬA TIÊU DIỆT MÁY BAY B52 ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM BÙI DỤC TÀI - NGƯỜI ĐẦU TIÊN CÓ CÔNG MỞ ĐƯỜNG HỌC VẤN, KHOA BẢNG VÙNG CHÂU THUẬN TRẦN HỮU DỰC - NGƯỜI THÀNH LẬP TỔ CHỨC ÁI HỮU DÂN ĐOÀN Ở QUẢNG TRỊ BẾP LỬA NHÀ SÀN - NÉT SINH HOẠT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ TRANG SỨC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ Tết Đoan Ngọ qua tài liệu mộc bản triều Nguyễn